Archive | Tháng Chín 2012

Lời của một cánh đồng còn con gái

Thơ Lê Vĩnh Tài

Tiếng súng n ư? Có nghĩa là gì nh?
Khói cay t
lu đn ư? Cũng có là gì nh?
Dùi cui th
c vào bng ư? Nó có là gì nh?
M
t tiếng hét t đa ngc
T
mt cái ming
Há to ra thè m
t cái lưỡi dài
Đ

Màu c
a mt con qu 


Chiếc lưỡi thè ra liếm sch cánh đng
Và khò khè ngay cánh c
ng căn nhà ca m
Mùi hôi th
i không làm sao ra sch

Nhng ánh đin b tt
Làng quê t
i mò
Ti
ếng khóc ca mt cây nến
L
loi ánh sáng
Phía cu
i mt đường hm
Làn khói l
u đn cay làm em phát hong

Chiếc khăn trùm đu ca m còn vướng vào bánh xe
Hình nh
ư M b ngã vào đy
M
t chiếc tã ca em bé
Đang ph
t phơ trên đu chiếc gy
Các anh dân phòng v
a mi chui qua dây phơi
Giăng ngang khu v
ườn quê có chu hoa hôm nay chưa kp tưới nước

Làm nghn th nhng người không được
Vào nhìn. M
t đa tr yếu t trong chiếc cũi
Treo đong đ
ưa gia khu vườn
Các anh công an và dân phòng đang tràn qua
Bay l
ượn

Nhng anh dân phòng và công an vui tính
Thoa m
lên thân xác lun như rn
Tr
ơn kinh khng kinh khng

Các anh ơi
Sut đêm em đã bp bùng chp tt
T
m vi tri giường ca em nhăn quéo như n cười mt tên dâm đãng
Cu
n ly em
Sáng ra em nh
n thy cái gì cũng mun nôn e

Em mong manh hai bàn tay trng
V
i chiếc cuc cũ rích
Hai mông qu
n cũng cũ rích
Ch
ng lên tri mt th cũ rích

Nhưng em tinh khiết trên cánh đng ca em
Các anh làm em đau
Các anh đè lên em c
ngày làm em không chu ni
Thân xác em b
vò nhàu
Hai chân em tê d
i
Hai m
t em cng đ
Môi em b
sưng
Hai vú em b
nhão
Em không còn mu
n gì na hết
Các nhà th
ơ c ca ngi em như mt vng trăng
M
ng manh không chu ni
Hai n
a vng trăng ca em chưa kp khép li
Các anh c
chen vào
S
c nóng t hai đùi ca em b dng ra không làm các anh kinh ngc ư?
Các anh công an và dân phòng
Đ
ến ri đi đ mt mình em nm cay đng
H
hênh

Em cũng mun đng lên
Em bi
ết mình có th tr dy
Buông th
thân mình đ tr v
Làm m
t cánh đng xanh mướt
Cho nh
ng ht lúa có gai như hoa hng
Ch
ưa yêu mà chy máu

Các anh đng hôn em
Vì em ph
i no vét sch bùn trong c hng các anh
Mùi c
ng rãnh
Tình s
ca các anh không phi ch các anh mà còn là người y
Núp trong bóng t
i
Mà cũng c
yêu em

Không phi anh cũng không phi người y
Em vén váy
Bay xu
ng đa ngc
Không có các anh
Nhng chuyn y
Hình nh
ư mi đây anh đã làm mt ln
Anh V
ươn Hi Phòng không biết là anh yêu nên đã dùng ti súng
Còn em không c
n
Em bi
ết anh thích em
V
i nhng món quà anh tng cho em như Hitler đã tng cho người Do Thái
C
i qun áo ra nào
Các anh cũng là ng
ười mà sao ai cũng khiếp s?
Da th
t các anh ri cũng tan biến
Trong h
m m
Em v
n là mt người đàn bà ba mươi by tui
Ch
c phi 7 ln mun chết
Đây m
i là ln th 2
Các anh xô nhau vào xem
Em tr
n trung không phi em dâm đãng
Da c
a em vú ca em
Lông c
a em tóc ca em
Hai đ
u gi xương xu ca em
Các anh đang g
ra nhng ln vi lim khi người ta ướp xác
Em
Da b
c xương nhưng em vn là người đàn bà anh yêu
L
n đu tiên chúng ta làm chuyn y
Các anh l
i chơi trò súng n và vung roi
B
o dâm làm em s
Em ph
i khép cht li hai đùi ngm câm như hến
Th
Hến còn dám đong đưa còn em c khép mình

Chết không có gì là mi
Hi
ếp dâm không có gì là mi
Đàn bà không có gì là m
i
C
i trung không có gì là mi
Các anh làm chuy
n y tht c khôi
Các anh công an
ơi các anh dân phòng ơi
Các anh đi không biết bao gi tr li
Xóm làng em trai gái v
n ch mong
Ch
mong kháng chiến thành công
Các anh v
li em không còn gì
Tò vò ng
i khóc t ti

Các anh v mái m nhà vui
Trai gái ng
m ngùi té xu
Th
ế đy thưa các anh B Đi
Th
ế đy thưa các anh Công An
Th
ế đy thưa các anh Dân Phòng
Nh
ng người ban ngày coi em như k thù
Đ
ến đêm li đè em ra
H
h

Em là cô gái hay nàng Tiên?
Em là con bé b
ng bông vi mm
Em là con bé b
ng vàng ròng
M
t chiu la cháy
Các anh tha h
quy
Thành đám tro

Mi th đã cháy
M
t chiếc tã lót
M
t bánh xà-phòng
M
t búp bê hp háy
M
t chiếc lược con b gãy
Các anh ch
ng thy th gì ca thế lc thù đch b li
Ch
cái chén ăn cơm b v
Nó có ph
i ca thế lc thù đch không anh?
Nó có th
ca đt tay ca anh
C
n thn cn thn
T
tro tàn
M
đang gượng dy
Nhìn anh

Không phi bà má Hu Giang
Làm gì có tù và d
y rúc
M
ch còn cái xác
Cái ch
ết là mt o nh
Mà anh ch
ưa biết
Các anh ch
nghĩ mình đi làm nhim v
Th
ế là xong
Nh
ư mt con rn
Các anh tr
ườn đi và b li các em bé
M
t vết cn và bình sa rng
Các em bé nh
ư cánh hoa hng
N
vào ngày các anh đến
Cũng còn l
i mùi hương và gai làm chy máu
Các anh cũng ch
ng ly thế làm bun
Vng trăng trên cao nhìn xung cũng không ly thế làm bun
Nh
ng đnh s ca các anh như chiếc mũ bo him
Làm b
ng xương
Và máu c
a nhng người đã chết vì T quc
Cho các anh
Cũng không l
y làm bun

Không phi s im lng này mà là mt s im lng khác
Em mu
n chết tr
V
i hi vng hi sinh
Dù không toàn b
thì cũng mt phn
Bóng t
i

Nước trên dòng sông Đung
Ngày x
ưa nhà thơ Hoàng Cm quay chiếc ci xay
N
m go mc
“Em
ơi bun mà chi…’”
Và Lê Đ
t lang thang trong gic mơ đi đng ca ai đó
Méo mó m
t đi

Ôi mùa thu
Các anh s
chôn em như em chôn đng c rác ngoài đng
Hay l
i đi ướt mm ca mt chú chn hoang
C
a Nguyn Vĩnh Tiến đưa anh tr li nhà em?

Mùa thu màu vàng nhng ngn đèn đường
Có nh
ng vách tường trang trí ngâp tràn khu hiu
Đ
ược Trn Dn ra sch như nhng khuôn mt
Nh
ng ct đèn nhng góc ph
N
ơi cái chết suy tàn thng tr
N
ơi con chim cui cùng bay mt
N
ơi ni đau như ct
Làm đôi

Gi đây em cô đơn
Các anh b
đi sau khi đã phóng như mưa
Vào c
ơ th em nhng làn tinh trùng but như làn đn
Không th
sinh ra nhng cô gái hay chàng trai
Cho n
ước Vit
Mà ch
có th sinh ra nhng s phn cúi đu
Nh
ư chiếc lá vch sâu tìm nơi n náu
Và t
ương lai là mt sa mc tàn bo
Em nghĩ không cái gì s
cu ri chúng ta
Nh
ư bóng ti và hơi lnh
Bây gi
em vn còn
N
m nga đây. Mt cánh đng tô hô, m ướt và khn cùng
Nh
ư chưa h anh hiếp dâm em
Hai chân em nh
ư mt em đã khép
Anh
ơi…
LVT
.
Tác gi
gi cho NTT blog
Advertisements
This entry was posted on 28/09/2012, in Thơ.

Lời của một cánh đồng còn con gái

Thơ Lê Vĩnh Tài

LỜI CỦA MỘT CÁNH ĐỒNG CÒN CON GÁI

.

Tiếng súng nổ ư? Có nghĩa là gì nhỉ?
Khói cay từ lựu đạn ư? Cũng có là gì nhỉ?
Dùi cui thọc vào bụng ư? Nó có là gì nhỉ?
Một tiếng hét từ địa ngục
Từ một cái miệng
Há to ra thè một cái lưỡi dài
Đỏ
Màu của một con quỷ  Tiếp tục đọc

Không gì quý hơn…”ấy chết “(!)


Xóm tôi chng ai chơi đá gà . Nghèo như bà con thì không nói, ngay giàu như ông đi tá hưu cũng chng mê trò đó. y thế mà my hôm trước, cô Ba v ông đi tá hưu rước đâu v con gà chi nng ti gn 5 kí ,chân cao, to kho, c, ngc, đùi lông tri li nhưng hai cánh lông dy cng làm thng By xe ôm nhy lên xuýt xoa :

“Í mèn ôi …cô Ba tu đâu được con gà kin tướng vy cà ? Mà cô tu cho ai vy, hai cha con ông đi tá hưu đâu có đá gà ?
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ C tu cho b, my hôm na th nào thng ch cũng ti bt gà…
Sáng nay chưa thy ai ti bt , đã thy cô Ba đng trước cng chi xoe xóe :
“ B làng trên xóm dưới, b láng ging láng ti , bên sau bên trước, bên ngược bên xuôi! Tao có con gà chi mi mua, nó mi lc ban sáng mà thng nào con nào, đa gn mà qua, đa xa mà li, nó dang tay mt, nó đt tay trái, nó bt mt ca bà, thì buông tha th nó ra, có đa nào trót nh tay đánh cp con gà chi ca bà thì hãy banh l tai vch l nhĩ lên mà nghe bà chi đây này… “
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Í mèn ôi…cô Ba chi vn chi vèo , hay thit, gii thit …
Bà Năm c ci tr môi :
“ Gii gì mà gii ? C chưởi theo bài “chi mt gà” Bc kỳ mà !
Thng By xe ôm tò mò :
a…chi mà cũng thành bài ? Thím Năm có biết bài đó không ?
Bà Năm c ci st sng :
“ Biết ch sao không ? Vy nè …
Ri bà véo von :
“ Chém cha đa bt gà nhà bà, chiu hôm qua bà cho nó ăn nó vn còn. Sáng hôm nay con bà gi nó nó vn còn, mà bây gi nó đã b bt mt. Mày mun sng mà vi chng vi con mày, thì buông tha th nó ra cho nó v nhà bà, nhược bng mày chp chiếm, thì bà đào m thng tam t đi nhà mày ra, bà khai qut bt săng thng ngũ đi lc đi nhà mày lên. i cái thng chết đâm, cái con chết xa kia, mày mà giết gà nhà bà thì mt người ăn chết mt, hai người ăn chết hai, ba người ăn chết ba. Mày xung âm ph thì qu s thn linh rút rut ra… 
C quán v tay ào ào. Gã Ký Quèn xua xua tay :
“ Chi vy xưa lm ri…Gi người ta chi khác kìa…
Cô Phượng cave tròn mt :
“ Chi sao anh Ký Quèn ?
Gã Ký Quèn cười cười :
“ Gi người ta không thèm chi mt gà đâu…chi mt trăm t, ngàn t kìa. Vy nè : “ chi cho tan nát tông môn h hàng cái quân khn kiếp đã ăn ca tau 4 t rưỡi đô la. Bây ăn chi mà ác nhơn ác nghip? Bây ăn bng Hoa sen, bây ăn bng tàu bãi rác, nhà máy đin bãi rác, bây ăn lt đt, bây ăn c ngày ln đêm. Bây ăn cho v (chng) bây xài, cho con bây phá, bây ăn cho ng miếu sp đình, cho m cha bây chết hết đ mt mình bây ngi đó bây ăn. Đ quân ăn chó c lông, ăn hng c ht. Cái quân không s tri đánh thánh đâm. Bây ăn mn răng mà hết bn t rưỡi đô la?
Thng By xe ôm xua xua tay :
“ Chi dài vy lt l tai sao được . My thng tham nhũng phi chi vy nè :” Mm thì như cái c cc li thích ăn tin . Mt thì nhăn nhăn như ln bà già li c thích lên tivi…
Ông đi tá hưu đp bàn quát :
“ Thng By xe ôm kia…ai cho mày văng ca quý ra quán h ?
Thng By xe ôm vênh mt :
“ Tôi văng ca quý cũng chng bng thng trung tá công an Vũ Văn Hiến văng cc vi bà con…”
Cô Phượng cave hi v :
“ Thng đó văng sao vy By
Thng By xe ôm cười hô h :
“ Thì nó văng “ t do…cái con cc …”
Gã Ký Quèn trn mt :
“ Nó chi vy chng hóa ra “ không gì qúy hơn …y chết (!)…
Ông đi tá hưu đp bàn, quát to :
“ Thng Ký Quèn không được xuyên tc by nghen! Tao báo công an còng tay mày.
Thng by xe ôm la chói lói :
“ I chết…anh Ký Quèn nói vy chng đúng sao chú Ba ? Gi chú Ba th không có con cc coi, cô Ba đui chú ra khi giường lin, vy con cc chng quý nht là gì ?”
C quán cười m m. Riêng ông đi tá hưu mt hm hm.
28 -9-2012

Khi không có dân để lãnh đạo

Chuyn trên hành tinh Alpha

.NGUYN TƯỜNG THY

Hưng Vit là mt quốc gia bán đảo hành tinh Alpha theo chế độ quân chủ lập hiến do đảng Gama lãnh đạo. Nn kinh tế nước này chậm phát trin, công ngh mi ch làm được chiếc xe nga bng g, bánh cao su. Câc thiết b, phương tin hin đi như, ô tô, xe la, tàu thy … đu phi mang lúa, qung đi cho nước ngoài mà có.
Thc ra, vào gia thế k trước, so vi các quc gia trong khu vc thì Hưng Vit là quc gia đáng n, nhiu nước thèm thung có được “Hòn ngc cc nam” – mt thành ph buôn bán sm ut ca Hưng Vit. Ch sau khi nhà vua thc hin chính sách cai tr hc được ca mt nhà quái lun dưới Trái Đt thì nước này mới bị tt hu so vi thiên h.

Phép cai tr ca nhà vua là thc hin song song chính sách bàn tay st và bàn tay nhung. Tuy vy, chính sách này không s dng theo kiu lá mt lá trái mà rt rõ ràng, nht quán. Bàn tay nhung dùng đ vut ve, che ch, khuyến khích đám quan li, lính l hăng hái làm vic còn bàn tay st dùng đ tr dân đen. Vi chính sách này, ngai vàng ca nhà vua qua nhiu chc năm vn chưa h suy chuyn. Ơn mưa móc ca nhà vua khiến t quan đến lính đu chu ơn sâu, trung thành tuyt đi.
Đám quan li được th tha h bóc lt dân nghèo. Dân b đè nén áp bc nhiu quá, li oán thán khp nơi.
Đám lính l ngày càng tr nên kiêu binh. Chúng bo nhau “Còn vua còn mình” và yên tâm làm tt c nhng gì chúng thích mà không s b nhà vua qu pht. Có tên say máu đánh chết người vì li rt v vn là không đi nón đ t bo v tính mng ca mình trước các tia phóng x trong vũ tr, nhà vua cũng ch b tù 4 năm ly l. Quan B Hình bo, ti ngươi quá rõ ràng không b tù không xong nên không th tha bng. Ngươi c yên tâm tù mt hai năm ri quc vương s tìm cách đc xá. Ta s ch đo bn qun giáo, đi bàng đ chúng không dám đng đến ngươi. Nh v thì hàng tun ta cho gp 24 gi. Như vy, ngươi có tù cũng như là không mà li bt được mt dân.
Vì thế, chng tên nào ngán lut vua, c thích bt ai là bt, giết ai là giết. Có ai khuyên gii, phân tích đúng sai thì chúng bo: Lut vua là cái đéo gì. Lut là tao đây này.
Dân chúng thy thế, ai cũng s.
Chuyn lính l bn giết dân xy ra như cơm ba. Nhiu người b lôi vào đn hôm trước, hôm sau thy triu đình loan tin vì s ti mà t t.
Mc dù vy, s phn ng ca dân chúng ngày càng lên cao. H b quan li cướp rung vườn, không chng tr được thì ci trung ra gi đt, hy vng nhà vua s xu mt mà chùn tay. Li có m ca mt tù nhân, vì con b kết án oan nên t thiêu đ phn đi. Hôm sau, thy nói bà y tranh giành đt vi hàng xóm nên t thiêu ch không có bt bình gì vi chính sách ca nhà vua c.
Hán Quc là nước láng ging rng ln, chuyên bt nt các nước nh, nht là các quc gia có chung biên gii. Nhân khi Hưng Việt có chuyn ni b, bèn đem chiến thuyn ra chiếm đo. Dân chúng phn n kéo nhau đến kinh thành biu tình phn đi. Nhà vua s Hán Quc ni gin đem quân vào đt lin như do trước, bèn bt hết dân biu tình nht li.
T khi lp quc, Hưng Việt chưa bao gi ri ren như thế.
Mt hôm vua ng triu, hi các quan:
–    Tình hình đt nước bây gi lòng dân không yên, biu tình khp nơi, dân chúng bày ra rt nhiu cách đ phn đi Hoàng gia. Bây gi làm thế nào?
Quan B Hình thưa:
–    Tâu bệ hạ, người ta có câu “bc như dân”. Nh ơn đi mi ca nhà vua, mt b phn không nh đã có cơm ăn, áo mc. Nhưng chúng có bao gi tha mãn. Được ăn no ri li còn đòi dân ch vi t do. T do cái con c cc.
Biết l li, quan B Hình thè lưỡi, ri t bt ming li, v vào mình my cái, mt tái mét lo b ti khi quân. Ông này xut thân t đám giang h, được vua chiêu d v trông coi vic hình trong triu nên nói năng không tránh khi l mãng nhưng được cái nhit tình hăng hái nên nhà vua vn tin dùng.
Nhà vua đang mi lo chuyn ln nên không chp. Mt khác, vua cũng là đng minh quân nên hiu quan li ăn nói quá trn cũng do được nuông chiu quá mà ra nên không n qu trách.
Nhà vua băn khoăn:
–    Nhưng my năm nay, quân lính đánh chết dân, các khanh cướp bóc ca dân nhiu quá, trm s lòng dân căm phn mà ni lon,
Quan B Hình trấn an vua:
–    Muôn tâu, phép tr dân phi cng rn, không được mm lòng. Va qua, ta có làm chết vài chc mng cũng chng qua do sơ sut c. Khi thn cho lính tráng bt k phm ti vào đn, đa thì t nhiên biu hin sc khe không bình thường, đng kh vào là lăn ra chết, có đa chết là do súng cướp cò, có đa trng ti, s quá nên t t. B h cai tr dân mà mi lòng thì ngai vàng sao có th muôn thu được. Ta li có lc lượng chuyên chính mang tên nhân dân, s gì. Hán Quc là nước ln, li chung lý tưởng vi ta. My hòn đo bé to chng qua ch là my bãi chim a, bn có trót ly thi ta có thit hi gì. Chng qua dân chúng li dng vic y mà làm ra to chuyn. Vic nhà vua cho bt nht so vi cách làm ca Hán Quc là quá nh. Trước đây, bn đem c đi bác, xe tăng dp biu tình, cán nát hàng nghìn tên ni lon thì đã có sao đâu. Va ri, bn thu hi đt, dân nghe thế lc thù đch xúi gic, ra phn đi, bn còn mang xe lu cán nát, đu óc be bét, chân tay đt ri tng mu thì dân chúng làm gì được. Ta cư x vi dân như thế là nhân đo lm ri.
Quan cơ mt vin thưa:
–    Vic dân chúng đòi hi là do mc âm mưu din biến hòa bình. Trước đây chúng có biết dân ch vi t do là cái gì đâu. Nước Chế t khi b ta đánh bi vn còn hn lm. Hi thua chy, chúng tuyên bc này không đánh được ta thì chúng s đi khi thế h chúng ta đã ra đi hết s ra tay, không đánh cũng thng. Bây gi thì thế h nòng ct toàn sinh sau chiến tranh c, chúng nghĩ khác chúng ta lm. Còn my tay cu chiến binh đa nào còn sng thì cũng đã già nua, đánh đm gì.
Nhà vua lo lng:
–    Tình hình như vy là quá bt n. Không th tiếp tc cách cai tr cũ được. Các khanh tính sao?
Quan cơ mt vin hiến kế:
–    Thn trm nghĩ, nếu dân không thích cho nhà vua cai tr thì cho chúng t do đ vua khi mang tiếng áp bc dân. Trước hết là phân loi dân, ly mt na ít lòng d vi nhà vua nht cho chúng v phía Namxem không có nhà vua cai tr thì chúng nó sng như thế nào. Na còn li cho vi nhà vua. Dân chúng phía Nam ai mt lòng vi vua thì cũng cho ra Bc. Dưới s tr vì ca nhà vua, li được các quan li toàn tiến sĩ c nhân thm nhun ch nghĩa đi đng, tc là toàn đnh cao trí tu giúp vic, bn bt đng chính kiến không còn, lo gì mà nước ta không hùng mnh. Còn bn thích t do chc ch cùng lm được mt năm là chúng s chán. Bn chúng dân đen, rt quân ngu si, ít hc, không có vua chúng tìm đâu ra ánh sáng. Chng chóng thì chy chúng li quay v xin được nhà vua chăn dt mà thôi. Lúc y có cho ko thì chúng cũng không dám ho he đòi t do dân ch na.
Vua cho là phi, đng ý chia đt nước làm hai min. Ngài cho 43 triu dân t nguyn xung phía Nam, la 43 triu li vi mình. L kỳ thay, trong s ra đi có ti hơn mt na trí thc ca đt nước. S non na trí thc còn li thì toàn là bng mua c.
My chc năm sau, chng hiu bng cách nào, Nam Hưng Việt (lúc này đã đi tên thành Nam Quc) tr thành quc gia phát trin nht khu vc. T ch ch chế to được chiếc xe nga kéo, nn kinh tế ca Nam Quc đã đi nhng bước thn kỳ. Các ngành chế to máy, ô tô, công ngh thông tin … phát trin vi tc đ phi mã, xut khu sang các nước khác trên hành tinh mi năm thu v vài chc t Alpha t. H d kiến trong 10 năm na, khi công nghip hàng không vũ tr phát trin s tính đến chuyn xut khu hàng hóa xung Trái Đt.
Còn Bc Hưng Việt, quan quân sng dư dt được my năm đu do kho bc còn tích tr được. Vua quan lính tráng sut ngày đi hát karaoke, gi đùi gái tơ, vui v lm. Không còn ai đòi dân ch vi t do, không còn ai biu tình. Cánh blogger hay bi móc cũng theo đám dân thích t do đi xung phía Namc. Tình hu ngh vi bn láng ging phương Bc li thm thiết như môi vi răng.
Nhưng ri ca kho mãi cũng cn. Dân Bc Hưng Việt toàn dòng dõi nhà quan nên không quen lao đng. Nhóm tiến sĩ tng có công trình nghiên cu v cây lúa nước được vua ban tng gii thưởng Hoàng gia đnh áp dng làm cuc cách mng xanh đ ci thin tình trng thiếu lương thc nhưng li không biết mt mũi cây lúa nước ra làm sao. Ch có nông dân thì biết nhưng chng l tìm vào Nam Quốc mi h ra ch đ làm mi vic nhn mt cây lúa.
Ngh mà Bc Hưng Việt tho nht là ngh lãnh đo và sn xut ngh quyết thì ni đa không dùng ti vì dân s toàn là quan li, có xã bé tí cũng có ti 500 quan ln nh. Ngh quyết thì ch đ lãnh đo dân thường mà dân thường thì không có. Có viên quan đ xut vi nhà vua xut khu công ngh lãnh đo và sn xut ngh quyết sang các nước đ thu ngoi t nhưng làm marketing mãi vn không ký được hp đng nào. Đng rung b hoang hóa, các nhà máy thu hp sn xut. Đám quan li thoái hóa biến cht nhân cơ hi lin tháo d nhà xưởng, tàu thuyn ca các qu đm thép đem bán st vn. May mà dân Nam Quc đã t nguyn tr món n 50 t Alpha t vay ca nước ngoài trước đây nên bt đi ni lo tr n. Nam Quc hàng năm còn vin tr nhân đo cho Bc Đi Đng my trăm nghìn tn go nên cũng gii quyết được phn nào nn đói. Nhưng điu đáng lo nht ca Bc Hưng Việt là không có dân đ chăn dt. Ni đau kh này còn hơn c không có cơm ăn, áo mc. H ch, ch mãi không thy Nam Quc c người ra mi h vào lãnh đo. Nhà vua đnh đem quân gii phóng Nam Quc vi mc tiêu chiếm ít ca ci và nht là chiếm ly mươi triu dân đ lãnh đcho đỡ nhớ nhưng đt nước lúc này toàn quan, không ai quen đánh trn c.
Trên mng internet có mt bc nh nghe nói là bán đo Hưng Việt v ban đêm được chp t v tinh. Thông tin này chưa được kim chng


27/9/2012
NTT

Đanh thép nữa đi. Tàn bạo hơn nữa đi.

Đanh thép nữa đi. Tàn bạo hơn nữa đi.

Bà Đầm xòe.

.

Tôi rất khóai sự phản đối của Đảng và nhà nước ta qua mồm ông Lê Thanh Nghị đối với các nhà nước, các tổ chức, các cá nhân ở phần còn lại của thế giới đã đồng thanh phản đối về mức án 39 năm mà đảng và nhà nước ta kêt án cho 3 bloger: Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải.

Lời tuyên bố qua mồm anh Lê Thanh Nghị thật hùng hồn, đanh thép. Nó như là hơi sức của 4 ngàn năm lịch sử của Đại Việt choa dồn tụ vào và gần hơn, lớn hơn là hơi sức của cả một hệ thống xã hội chủ nghĩa đã bị sụp đổ trên toàn thế giới hội tụ vào, trong đó có hơi sức của cả mấy triệu đảng viên CS đang sống hoặc đã chết ở những nước đã sụp đổ và đã nuốt hận. Tiếp tục đọc

Cú đấm của tỷ phú Alexander Lebedev

Cú đấm của tỷ phú Alexander Lebedev

Huỳnh Văn Úc

 .

Alexander Lebedev (sinh năm 1959) là một doanh nhân người Nga. Năm 2008 với tài sản ước tính 3,1 tỷ USD ông được Tạp chí Forbes xếp hạng là một trong những người Nga giàu nhất và lọt vào danh sách 358 người giàu nhất trên thế giới. Ông sở hữu một phần ba tài sản của hãng hàng không Aerofot, có cổ phần sở hữu một số tờ báo Anh nổi tiếng như The Independent, Evening Standard. Ông sinh ra trong một gia đình trí thức, cha là giáo sư ở Học viện kỹ thuật Bauman, mẹ là giảng viên dạy tiếng Anh của một trường đại học ở Moskva. Tiếp tục đọc

Đanh thép nữa đi. Tàn bạo hơn nữa đi.

Bà Đầm xòe.
Tôi rất khóai sự phản đối của Đảng và nhà nước ta qua mồm ông Lê Thanh Nghị đối với các nhà nước, các tổ chức, các cá nhân ở phần còn lại của thế giới đã đồng thanh phản đối về mức án 39 năm mà đảng và nhà nước ta kêt án cho 3 bloger: Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải.
Lời tuyên bố qua mồm anh Lê Thanh Nghị thật hùng hồn, đanh thép. Nó như là hơi sức của 4 ngàn năm lịch sử của Đại Việt choa dồn tụ vào và gần hơn, lớn hơn là hơi sức của cả một hệ thống xã hội chủ nghĩa đã bị sụp đổ trên toàn thế giới hội tụ vào, trong đó có hơi sức của cả mấy triệu đảng viên CS đang sống hoặc đã chết ở những nước đã sụp đổ và đã nuốt hận.

Mình phải là mình, phải không anh Nghị? Mình sợ đếch gì chúng nó. Sợ đếch gì cha con thằng nào. Ba rác Oba ma ư? Mày chỉ là thằng mọi da đen óng ánh như bồ hóng trong bếp rạ nhà tao. Mày văn minh nào bằng chúng tao. Mày khôn khéo trí tuệ nào bằng chúng tao mà lưu ý tao phải nhớ Điếu cày? Còn cái đám tay chân của Ba rác ư? Các ông các bà có im miệng đi không. Các ông, các bà không thấy sao, tổng thống của chúng mày mà tao còn chẳng sợ, tao sợ gì đám chúng mày mà cảnh báo với đe dọa.
Cả bọn Châu Âu và phương Tây nữa? Chúng mày biết không, trong mắt chúng tao, bọn mày chỉ như những hình nộm làm bằng bột mì đã chín. Tao xem mày cũng chỉ là thứ công tử bột hay cùng lắm chỉ là một thứ gà công nghiệp mà thôi. Mày khoe mày văn minh ư? Hay sờ vào chính cái bụng, cái ngực, cái mặt của mày xem, từng khu lông của mày có khác gì lông khỉ. Văn Minh của chúng mày chỉ thuộc hạng ” lông chưa sạch ở bụng”, nhằm nhò gì mà lo lắng mà lên án chúng tao.
Hãy nhìn vào lịch sử của chúng tao.
Khi chúng tao đánh Mỹ, chúng tao đã biết làm cho nhân dân Mỹ nổi lên chống lại nước Mỹ ở ngay trong lòng nước Mỹ.
Chúng tao đã làm cho cả phương Tây, cả châu Âu nức nở, nhỏ lệ và ủng hộ chúng tao hết mình khi biết rõ chúng tao là ai? Chúng tao là cộng sản, một chi nhánh của Nga Xô, của Tàu Cộng tại Việt Nam.
Từ khi nước tao thực hiện đổi mới đến nay, cái gì cũng sờ sờ ra cả đấy. Ấy mà chúng mày có biết ngô khoai gì đâu. Chúng mày đã sập bẩy chúng tao bao nhiêu lần rồi, mà vẫn chưa biết, chưa tỉnh ngộ ra. Chúng mày ấu trĩ lắm.
Chỉ lược thuật sơ sơ như vậy, chúng mày biết chúng tao như thế nào rồi. Tài của chúng tao cao thấp với chúng mày như thế nào rồi. Chúng tao là cộng sản, bây giờ vẫn cứ là cộng sản. Chúng tao vẫn là đội tiên phong của giai cấp công nhân; chúng tao là lực lượng tiến bộ đại diện cho nhân loại tiến bộ, chúng tao là mùa xuân đại diện cho mùa xuân nhân loại nữa kia.
Vì sự thật và vì lý do đó, tôi tuyên bố: Ai căm giận Đảng, Nhà nước mình về cái tuyên bố này thì cứ căm giận, riêng tôi thì tôi khóai lắm. Tôi muốn Đảng, Nhà nước mình hãy học Tàu Cộng nhiều hơn nữa, để cần phải đanh thép hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa với mấy nước, mấy con, mấy thằng và nếu cần, mình không những tiếp tục tàn bạo với dân mình mà cũng cần phải tàn bạo với toàn thế giới để cho chúng nó biết tay. Vì sao ta có quyền làm như vậy? Bởi vì ta là cộng sản, là Đảng Cộng sản Việt Nam với tuổi thọ muôn muôn năm cơ mà.
BĐX.
Tác giả gửi cho NTT blog

Cú đấm của tỷ phú Alexander Lebedev

Huỳnh Văn Úc
Alexander Lebedev (sinh năm 1959) là một doanh nhân người Nga. Năm 2008 với tài sản ước tính 3,1 tỷ USD ông được Tạp chí Forbes xếp hạng là một trong những người Nga giàu nhất và lọt vào danh sách 358 người giàu nhất trên thế giới. Ông sở hữu một phần ba tài sản của hãng hàng không Aerofot, có cổ phần sở hữu một số tờ báo Anh nổi tiếng như The Independent, Evening Standard. Ông sinh ra trong một gia đình trí thức, cha là giáo sư ở Học viện kỹ thuật Bauman, mẹ là giảng viên dạy tiếng Anh của một trường đại học ở Moskva. Năm 1977 Alexander Lebedev thi vào khoa Kinh tế Học viện Quan hệ quốc tế Moskva (МГИМО). Sau khi ra trường năm 1982 ông lại học tiếp ở Học viện Cờ Đỏ của KGB.

Năm 1987 ông đến Luân Đôn làm việc trong sứ quán Liên Xô tại Anh. Chức vụ chính của ông là tùy viên kinh tế nhưng vai trò thực sự của ông là điệp viên KGB. Thông qua các quan hệ cá nhân và công việc, ông thu thập nhiều tin tức tình báo quý giá. Sau khi rời khỏi ngành tình báo Nga, Alexander Lebedev thành lập Công ty Đầu tư Tài chính Nga. Năm 1995 công ty này mua Ngân hàng Dự trữ quốc gia. Dưới sự lèo lái của ông ngân hàng này trở thành một trong số mười ngân hàng lớn nhất nước Nga đã vượt qua cơn khủng hoảng tài chính năm 1998 để trở thành chủ sở hữu của những khối tài sản khổng lồ: 30% cổ phần của Hãng hàng không quốc gia Aeroflot, 44% của Công ty Tài chính Ilyushin là công ty cung cấp vốn cho ngành sản xuất máy bay ở Nga, đầu tư vào Công ty dầu khí Gazprom.

Khi có tiền trong tay người ta lại muốn có mặt trên chính trường và tham gia vào những hoạt động chính trị. Năm 2003 Alexander Lebedev ra ứng cử vào chức thị trưởng Moskva nhưng chỉ nhận được 13% số phiếu bầu. Cũng năm ấy ông được bầu vào Duma Quốc gia Nga (Hạ nghị viện Nga). Ông cùng với cựu tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev sở hữu 49% cổ phần của tờ báo Novaya Gazeta-một tờ báo của phe đối lập ở Nga. Novaya Gazeta là tờ báo thường có các loạt bài điều tra về tiêu cực trong chính trường nước Nga, cũng là tờ báo được biết đến với nhiều phóng viên bị giết, trong số đó có nữ nhà báo nổi tiếng Anna Politkovskaya-người bị bắn chết trong thang máy ở chung cư nơi bà ở tại Moskva vào ngày 7/10/2006. Gorbachev và Lebedev cũng là những người đồng sáng lập đảng Dân chủ độc lập-một đảng đối lập. Ông nói rằng cần có những thay đổi lớn hơn nữa ở Nga, cần một cơ chế mới tự do hơn cho báo chí, cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn để chống quốc nạn tham nhũng.
Để dập tắt những tiếng nói đối lập nhà cầm quyền thường dựng lên những kịch bản mà khi đem ra dàn dựng vở diễn thường đem lại sự đàm tiếu của dư luận. Ngày 18/ 9/2011 trong một cuộc tranh luận trên truyền hình Nga sau một hồi lời qua tiếng lại gay gắt làm cho máu trong người viên cựu sĩ quan KGB sôi lên, ông Alexander Lebedev đã đấm nhà tỷ phú bất động sản Sergei Polonsky làm ông này ngã văng ra khỏi ghế ngồi. Theo nhà cầm quyền cú đấm đã gây ra thương tích. Người ta không cần biết Sergei Polonsky đã nói năng nhăng nhít thế nào để đến nỗi phài bị ăn đấm. Nhà cầm quyền hẳn cứ đưa nạn nhân đi giám định thương tật ở bệnh viện và kết quả giám định đủ sức thuyết phục để có thể truy tố Alexander Lebedev ra tòa. Sau một năm xảy ra scandal ngày 26/9/2012 Ủy ban điều tra quốc gia Nga đã ra quyết định khởi tố ông Alexander Lebedev về tội tấn công có tính chất côn đồ. Nếu bị kết tội ông có thể bị án 5 năm tù giam.

HVU
Tác giả gửi cho NTT blog
This entry was posted on 27/09/2012, in Báo chí.

Tận cùng của sự tàn bạo ở Trung Quốc: chính quyền ra lệnh cho xe lu cán bẹp nát một người dân biểu tình đòi đất đai

Mt người dân ti làng Trường Sa, tnh H Nam đã b mt chiếc xe lu cán bp nát theo lnh ca chính quyn đa phương.
Người đàn ông tên là He Zhi Hua, t chi không nhn khon tin bi thường đt đai ít i t nhà nước đ di di khi làng Trường Sa, nơi chính quyn mun thu hi đt đ s dng vào mc đích thương mi.
Ông He Zhi Hua đã phn đi vic di di ca chính quyn, nm ngáng đường trước mt chiếc xe lu.
Phó Th trưởng đa phương đã ra lnh cho người lái xe lu cho xe cán qua, đè nát người ông He Zhi Hua.
Hình nh gây sc cho thy b não ca Zhi Hua b cán nát by, còn cơ th ca ông b rã thành nhiu mnh.

Chính quyn đã đui hết người dân ra khi làng Trường Sa sau khi v giết người tt cùng tàn bo này xy ra.
Chính quyn Trung Quc đã c gng che giu cơ th bp nát ca người đàn ông xu s, trin khai lc lượng gm 200 cnh sát được trang b đy đ đ che đy v giết người, kim soát s căm gin và dp tt kh năng biu tình ca người dân.
(Hình nh gây sc, xin thn trng khi xem)

Dù v giết người tàn bo này đã được bưng bít che giu bi các phương tin truyn thông nhà nước nhưng vn gây nên s căm phn dâng cao trong cng đng mng Weibo, mt phiên bn ca Twitter Trung Quc.
Đã có s ging nhau kinh hoàng gia v giết người dã man này vi v đàn áp ti Qung trường Thiên An Môn năm 1989, khi chính quyn cho xe tăng cán nát nhng sinh viên biu tình.
Li thêm mt ti ác vô cùng kinh tm ca chính quyn Trung Quc.
Thông tin cp nht t: Daily Mail và Infowars .

This entry was posted on 27/09/2012, in Báo chí.

Tận cùng của sự tàn bạo ở Trung Quốc: chính quyền ra lệnh cho xe lu cán bẹp nát một người dân biểu tình đòi đất đai

Tận cùng của sự tàn bạo ở Trung Quốc: chính quyền ra lệnh cho xe lu cán bẹp nát một người dân biểu tình đòi đất đai

.

Một người dân tại làng Trường Sa, tỉnh Hồ Nam đã bị một chiếc xe lu cán bẹp nát theo lệnh của chính quyền địa phương.

Người đàn ông tên là He Zhi Hua, từ chối không nhận khoản tiền bồi thường đất đai ít ỏi từ nhà nước để di dời khỏi làng Trường Sa, nơi chính quyền muốn thu hồi đất để sử dụng vào mục đích thương mại.

Ông He Zhi Hua đã phản đối việc di dời của chính quyền, nằm ngáng đường trước một chiếc xe lu. Tiếp tục đọc

Thủ tướng đã thắng rồi. Xin chúc mừng thủ tướng!

Bà Đm xòe


Như in tc loan truyn, vic b phiếu k lut th tướng không được tiến hành ti cuc hp 5 ngày ca BCT va kết thúc và được trân trng chuyn cho Hi ngh Ban chp hành Trung ương s hp toàn th vào trung tun tháng 10 ti.
Thế là th tướng thoát nn ri. Xin được chúc mng th tướng.
Vì sao tôi li chúc mng th tướng sm như vy?
Vì, tôi hoàn toàn tin tưởng Th tướng s vượt qua ca i rng trong cuc hp toàn th Ban châp hành TƯ vào tháng 10 ti. Tôi nhm tính có ti 70% các v VTƯĐ b phiếu thun cho th tướng, không nhng ti v hết nhim kỳ mà kỳ ti chc hn th tướng còn lên v trí cao hơn.

Vì sao tôi li đoan quyết như vy?
Vì, chưa nói đến nhng li ích mà lâu nay th tướng ch chăm chm chăm lo cho hu hết các y viên trung ương đng, t trung ương đến đa phương, t b đến ban, nganh, s; t tng công ty đến công ty… mà cái chính là dân mình luôn có tâm lý trc ch Du đ thì bìm leo. Vic 14 y viên B chinh tr nht trí, đng lòng không b phiếu, tc là chng có Du nào đây b đ. Mà Du không đ thì Bìm nào dám leo? Các UVTƯĐ trong v vic này là Bìm. Du không đ thì hn có ít Bìm dám leo lm. Đó là mt lý. Lý na, dân mình cũng thường xuyên có tâm lý ngóng trông lên. Trông lên, thy trên cũng ch là kim đim vy thôi, bóng trong chân người nào thì c trong chân người y, thì Bìm dưới cũng ch chơi chơi vy thôi, tc b phiếu vy thôi, trên không dám quyết thì dưới di gì mà quyết, thng chưa thy đâu, tai ha có th p đến lin. 70% phiếu thun cho th tướng là vì vy.
Còn ti sao li như vy ư?
Khi 14 y viên BCT nhóm hp, bao nhiêu tin trên mng nín th, háo hc chuyến này thế nào th tướng cũng đi tong, ch dường như duy nht Bà Đn xòe là không tin có chuyn đó. Ti sao vy? Các bn có th tìm đc các bài ca Bà Đm Xòe trên các mng khác còn lưu tr vì blog badamxòe đã b đánh sp, như bài ” Mèo vn… mèo”, ” Tham lam, bn tính và s la chn”,  “Cuc chiến 5 ngày, thc cht ch là hưu chiến” đ thy rõ nguyên nhân, vì sao cuc chiến li như vy. Đó là nguyên nhân chính và thuc bn cht ca chế đ ta. Vic Th tướng đi thăm TQ ch là thêm mt thùng nước lnh di vào đm la đang leo lét cháy mà thôi, vì rt có th th tướng đã thay mt Đng, Nhà nước, Chính ph nước mình cm ” nht lnh” ca Tp Cm Bình gi v.
Dù sao thì Th tướng cũng đã thng . Xin chúc mng th tướng.
BĐX

Tác gi gi cho NTT blog

Thủ tướng đã thắng rồi. Xin chúc mừng thủ tướng!

Thủ tướng đã thắng rồi.

Xin chúc mừng thủ tướng!

 Bà Đầm xòe

 .

Như tin tức loan truyền, việc bỏ phiếu kỷ luật thủ tướng không được tiến hành tại cuộc họp 5 ngày của BCT vừa kết thúc và được trân trọng chuyển cho Hội nghị Ban chấp hành Trung ương sẽ họp toàn thể vào trung tuần tháng 10 tới.

Thế là thủ tướng thoát nạn rồi. Xin được chúc mừng thủ tướng.

Vì sao tôi lại chúc mừng thủ tướng sớm như vậy? Tiếp tục đọc

Bàn về sự ngụy biện của ông Trần Bạt

Trần Mạnh Hảo
Trên blog “Lớp AO – Khóa  9” có in bài nói chuyện của ông Nguyễn Trần Bạt với các nhà lý luận chính trị hàng của đảng cộng sản Việt Namvới nhan đề :
Tôi làm hết sức mình để “giải độc cho thế hệ trẻ”– Nguyễn Trần Bạt”
(Qúy bạn đọc có thể đánh từ khóa : “Nguyễn Trần Bạt nói chuyện với các nhà lý luận chính trị” vào website : http://google.com là tìm được bài này). Chúng tôi xin phép trao đổi với nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt về một số nội dung trong bài diễn thuyết này của ông.

Chúng tôi xin trích lại “Lời dẫn” của bài chủ như sau:
Lời dẫn – “Tuần sau, cả nước đi bầu… Tén ten tèn ten…”. Sự kiện lớn trong đời sống xã hội là dịp để mỗi người suy ngẫm về trách nhiệm công dân. Với thế hệ chúng ta, có một việc quan trọng và ý nghĩa nữa là làm sao để thế hệ trẻ của đất nước sáng suốt và mạnh mẽ hơn cha anh với trách nhiệm công dân của mình. Cũng nhân bài viết của Châu Sa về bầu cử tại Singapore, xin trân trọng giới thiệu với các bạn nội dung Tọa đàm giữa ông Nguyễn Trần Bạt và các cán bộ nghiên cứu  Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (Ngày 22/11/2008) về nhiều vấn đề liên quan tới tư duy và phát triển. Kết nối với một số thảo luận, tranh luận trước đây trên blog của lớp ta, tiêu đề cho bài này được chọn không trực tiếp nằm trong nội dung, mà là quan điểm của Tác giả khi viết sách, viết báo về các vấn đề xã hộiTôi đã thử tìm cách rút gọn nội dung tọa đàm để phù hợp với khuôn khổ của Blog, nhưng các nội dung đề cập rất phong phú với cách tiếp cận của Tác giả rất mạnh mẽ, trực diện, rất mở cho suy ngẫm nên tôi quyết định giữ nguyên, chỉ trích ra để “highlight” một số câu tâm đắc. Thông tin về cá nhân  và các bài viết khác của Tác giả Nguyễn Trần Bạt có thể xem ở đây – TBV
Ông Phạm Ngọc Quang: Tôi xin giới thiệu anh Nguyễn Trần Bạt, Tổng giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư và Chuyển giao công nghệ (INVEST CONSULT). Hiện nay, công ty anh Bạt có khoảng 300 nhân viên làm việc ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Công ty đã làm việc với rất nhiều dự án nước ngoài như Coca-Cola, IBM… Anh Bạt đã từng tiếp hàng nghìn người nước ngoài và là một người am hiểu nhiều vấn đề. Anh Bạt cũng đã đi rất nhiều nước, đến nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới thuyết trình và đã từng gặp gỡ, trao đổi với Tiến sĩ Henry Kissinger.
Tôi cũng xin giới thiệu với anh Bạt về thành phần đoàn của chúng tôi gồm:
–          Tiến sĩ Nguyễn Viết Thông, Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương.
–          Phó giáo sư, Tiến sĩ Đàm Đức Vượng, Nguyên Chánh văn phòng Hội đồng Lý luận Trung ương.
–          Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Quang, Thường trực chuyên trách Hội đồng khoa học, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
–          Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoà, Vụ trưởng, Ban Tuyên giáo Trung ương.
–          Thạc sĩ Lê Đức Thắng, nguyên Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Văn phòng Trung ương.
–          Cử nhân Hoàng Thị Minh Ngọc.
Trong buổi làm việc hôm nay, chúng tôi đề nghị anh Bạt trao đổi về 2 vấn đề nhưng thực ra chỉ là một, đó là vấn đề dân chủ, đồng thuận, đoàn kết đối với doanh nhân và trí thức, bởi vì doanh nhân là một đặc thù trí thức. Làm thế nào để phát huy dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội đối với đội ngũ doanh nhân, làm thế nào sử dụng tốt đội ngũ doanh nhân để giải phóng khả năng phát triển và sáng tạo của họ, và trọng dụng doanh nhân như thế nào là hợp lý để phát huy sức mạnh của doanh nhân.
“Truyền hình trực tiếp (các Bộ trưởng trả lời chất vấn của Quốc hội) … là thông báo sự non kém của nội các với toàn thế giới”
Ông Nguyễn Trần Bạt: Tôi chưa nói đến đời sống trí thức vì tôi không đồng ý với khái niệm gọi là tầng lớp trí thức, tôi cho rằng trí thức có mặt trong mọi hoạt động, mọi hành vi hàng ngày của con người. Trước đây, khi anh Trần Hoàn còn là Phó ban Văn hoá Tư tưởng Trung ương, trong một buổi giao lưu với các nhà báo có sự tham gia của anh ấy, tôi có nói rằng, tôi không tin có nhà chính trị, có người trí thức, có nghệ sỹ, có nhà báo… mà đấy chỉ là những trạng thái khác nhau, quán xuyến những giai đoạn khác nhau trong đời sống của con người…”… “Và tự do nói chung được định nghĩa là: Sự dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi. Ở chỗ nào ý nghĩ được biến thành hành động một cách tự nhiên thì ở đấy có tự do…”(hết trích)
TRẦN MẠNH HẢO ( viết tắt TMH) : Xã hội nào cũng có một tầng lớp trí thức, ông Bạt nói như trên là ngụy biện. Hoặc là trí thức theo quan điểm của ông Bạt phải là những người đối lập với chính quyền, thì ông phải bảo thẳng là trong xã hội ta hiện nay, hầu như không có trí thức.Sao ông ngụy biện à uôm vậy ?
Ông Bạt định nghĩa tự do như trên là sai, là ngụy biện. Không phải ý nghĩ nào cũng có thể biến thành hành động. Ví dụ tôi đang nghĩ : mình phải bay lên ba vạn thế giới như Tôn Ngộ Không, thì ý nghĩ này không thể biến thành hành động, vậy tôi đang không có tự do hay sao? Ví dụ, tôi đang nghĩ, đang nhớ đến người bạn gái công tác bên Pháp mà tôi không thể gặp vì quá xa…không thể biến nỗi nhớ thành hành động yêu thương cụ thể được, vậy tôi là người không tự do sao ?
NGUYỄN TRẦN BẠT ( viết tắt sau :NTB) :“Trong buổi toạ đàm hôm nay với các anh, những nhà lý luận của Đảng, tôi không nói về tự do bên trong mà tôi muốn nói về tự do bên ngoài, tức là các điều kiện vĩ mô của đời sống con người. Nó liên quan đến rất nhiều yếu tố, trong đó, có lẽ yếu tố chính trị là số một. Các nhà tiền bối của chúng ta nói rằng Chính trị là thống soái thì rất nhiều người hiểu thống soái là chỉ huy, nhưng tôi nghĩ rằng, chính trị chỉ chỉ huy ở một số điều kiện, cho nên, phải nói là chính trị hướng dẫn mới đúng. Nếu những yếu tố chính trị không tích cực thì rất khó để con người có điều kiện sáng tạo và phát triển.”(hết trích)
TMH : Ông Bạt đang ngụy biện để bào chữa cho một khẩu hiệu, khẩu lệnh rất phản động của Mao Trạch Đông chống Marx; Marx bảo : “Kinh tế là thống soái, kinh tế quyết định chính trị”. Mao phản Marx bằng tuyên bố : “Chính trị là thống soái”. Quan niệm này làm hư hỏng các xã hội theo Stalin-Mao, biến nhân dân thành nô lệ cho đảng càm quyền. Ông Bạt đang ngụy biện, chống chế cho quan điểm sai trái này bằng cách liến láu đánh quả tù mù, đánh tráo khái niệm bảo là “thống soái” không phải chỉ huy mà chỉ là dẫn đường thôi, chính trị là trái tim Đan-Cô dẫn đường các đồng chí ạ. Ông Bạt đang toa rập với những quan niệm chính trị sai trái đang cầm quyền của 5 nước xã hội chủ nghĩa còn sót lại, mà trong sách của mình ông gọi là những nền chính trị lạc hậu nhất…
NTB : “Vấn đề thứ hai mà tôi muốn trao đổi với các anh là Quyền lực. Quyền lực tác động một cách khủng khiếp đến khả năng phát triển của con người. Quyền lực là nguồn gốc tạo ra nỗi sợ, và sự sợ hãi là yếu tố trực tiếp ngăn cản toàn bộ cảm hứng phát triển.”. “ Người ta hay nói đến sự sợ hãi gắn liền với cách mạng, chiến tranh, chết chóc… những tôi là một người lính đã từng ra trận, đã từng đối mặt với cái chết, tôi hầu như chưa thấy các biểu hiện sợ chết nào đó của người lính. Ở đấy người ta sẵn sàng rủ nhau hy sinh một cách rất tập thể.” “ Tôi đã từng sống trong môi trường có hàng chục ngàn nữ thanh niên xung phong. Lúc bấy giờ cuộc sống khổ lắm, ngay cả cái quần lót, áo lót cũng thiếu, rồi bệnh ngoài da, bệnh sốt rét hành hạ nữa… Với tư cách là một anh trí thức ra trận, tôi quan sát họ nhưng tôi không nhìn thấy ở họ sự sợ chết, sợ khổ, sợ cô đơn cũng không.” (hết trích)
TMH : Trong đoạn trích trên, ông Bạt không chỉ ngụy biện về quyền lực của nền chính trị chuyên chế (chuyên chính vô sản) làm người ta sợ hãi; khác hoàn toàn với nền chính trị đa nguyên do dân bầu, nên dân không hề sợ hãi người cầm quyền; ông còn nói rất bậy về con người, tức người lính trong chiến tranh chỉ là những hình nhân không tim không óc: không sợ chết, không sợ khổ, không sợ cô đơn…lao vào cái chết tập thể như thiêu thân. Quan điểm này của ông Bạt rất phi nhân.
NTB: “Chúng ta đã nhìn vấn đề kinh tế tri thức một cách cực kỳ đơn giản. Khi đọc những bài viết của một số giáo sư ca ngợi nền kinh tế tri thức, tôi thấy nổi da gà, vì tôi biết rất rõ rằng nền kinh tế tri thức có thể mang lại những tai hoạ khủng khiếp như thế nào”(hết trích)
TMH: Một người luôn nhân danh đổi mới, nhân danh khoa học và nhân danh toàn cầu hóa như ông Bạt mà lại đi kinh tởm và miệt thị nền KINH TẾ TRI THỨC như trên, thì ông Bạt ơi, xin chào ông vì ông là người của bác Sít, bác Mao còn sót lại …
NTB: “Đặt ra vấn đề đoàn kết và đồng thuận trong xã hội, nhất là đối với giới doanh nhân và đặt ở tinh thần như thế này thì phải nói rằng, như vậy là chúng ta quá trong sáng.
TMH: Ông Bạt vừa nói trong sách rằng nền chính trị độc quyền không do dân bầu ra, dân không có tự do ở xã hội ta, nay sao ông lại nịnh đảng ta thế ? Rằng ông đang khen chế độ ta đồng thuận và đoàn kết trong sáng quá. Abraham Linconl từng nói đại ý: dân chủ là lá phiếu, là phải hỏi người dân rằng thưa quý ngài, quý ngài có cho phép chúng tôi được quyền lãnh đạo các ngài không? Từ ngày ra đời (1930) đến nay, đảng ta của ông Bạt đã bao giờ cúi xuống mà lễ phép xin thưa với nhân dân Viện Nam, rằng thưa “các ông chủ”, các ông chủ có cho phép bọn đầy tớ chúng em được lãnh đạo các ông chủ lần nào chưa?
 NTB: “Bản chất của tự do là tạo ra những giới hạn để con người phát triển phù hợp với năng lực của nó và năng lực của nhà quản lý.”
TMH : Câu văn trên là điển hình cho sự ngụy biện của ông Bạt : sao lại “ BẢN CHẤT CỦA TỰ DO …LÀ GIỚI HẠN ? Tự do nghĩa là càng ít giới hạn càng tốt. Sao lại càng nhiều rào cản càng tự do. Giống y khẩu hiệu đại ngụy biện của “nhà giáo dục” Xô Viết Macarenkô thời Stalin nói ngược rằng: “KỶ LUẬT LÀ TỰ DO !”. Cứ đà này, diễn theo ông Bạt, ta có thể nói: độc tài là tự do…he he he he. Điều bốn hiếp pháp là tự do…Còng số tám là tự do…
NTB: “Nếu chúng ta xây dựng một phong trào chính trị để tìm kiếm sự đồng ý với Đảng thì sẽ rất khó và là ảo tưởng. Nhưng nếu chúng ta tạo ra một cơ cấu xã hội để mọi người đồng thuận với nhau và mọi người có thể đồng thuận với sự hướng dẫn chính trị trong từng việc, trong từng nhiệm vụ, trong từng giai đoạn thì đấy mới chính là một cách thức tiếp cận hợp lý đến khái niệm này.”
TMH : Mệnh đề trên ông Bạt càng nâng tài ngụy biện của mình lên chót vót phi lý, khó nghe. Trong các cuốn sách của mình, ông Bạt từng khẳng định, nếu xã hội chỉ có một lực lượng chính trị duy nhất thì nhân dân bị tước quyền lựa chọn, nghĩa là bị tước quyền tự do. Nay ông Bạt lại phán ngược lại rằng có thể tìm thấy tự do trong xã hội độc đảng, tìm thấy đồng thuận VỚI SỰ HƯỚNG DẪN CHÍNH TRỊ TRONG TỪNG VIỆC, TỪNG NHIỆM VỤ…nghĩa là nền chính trị đơn cực ấy chia lẻ ra từng vụ việc, từng hành vi lời nói, từng suy tư thì một đảng cũng vẫn tự do…
 “Trí thức chân chính luôn luôn đối lập một cách tự nhiên đối với nhà cầm quyền”
NTB: “ Nếu các anh các chị bảo tôi sai thì tôi sẽ im, lý do rất đơn giản là tôi là người tôn trọng tính đa dạng của đời sống. Nguyên lý tư tưởng của tôi là tôn trọng sự đa dạng tự nhiên, bởi vì nó là bản chất của cuộc sống. Cũng như lúc đầu tôi nói là không thể ghép đa nguyên và đa đảng được. Chúng ta có thể ngăn chặn sự đa đảng nhưng chúng ta không tiêu diệt sự đa nguyên được bởi vì đa nguyên là bản chất của cuộc sống. Về mặt chính trị chúng ta không cho phép đa đảng, hay chúng ta chưa được thành lập đảng chính trị vào giai đoạn thế kỷ thứ XXIII chẳng hạn, đó là quyền của những người cầm quyền. Khi anh vẫn cầm quyền tức là anh vẫn có quyền”
TMH: Đoạn văn trên chúng tôi khá khen cho ông Bạt trước các nhà lý luận của đảng độc quyền vẫn dám nói lên một sự thật : rằng các anh có thể cấm đa đảng nhưng bản chất cuộc sống vẫn cứ là đa nguyên.
 NTB:  “Trong quá khứ, hầu hết các Đảng Cộng Sản trên thế giới, đều đã từng làm việc này. Họ xây dựng nền văn hoá để kiểm soát xã hội về mặt thái độ chính trị, xây dựng đội ngũ công nhân để làm chỗ dựa, làm lực lượng chính trị, xây dựng đội ngũ trí thức làm trí khôn chính trị, tức là những người cầm quyền luôn muốn biến xã hội trở thành lực lượng của mình, công cụ của mình mà quên mất rằng làm như vậy sẽ khiến cho xã hội không còn tự do nữa.”
TMH : Đoạn này ông Bạt nói rất đúng: Dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản, xã hội không thể có tự do.
NTB : “ Trí thức chân chính luôn luôn đối lập một cách tự nhiên  với nhà cầm quyền
TMH : Hoan hô người trí thức Nguyễn Trần Bạt dám đối lập với chính quyền cộng sản vô cùng căm thù đối lập (mà đối lập là linh hồn biện chứng pháp Mác –xít)
 “Giữ gìn bản sắc là một khẩu hiệu không lành mạnh
NTB : “Tôi có nói trong quyển sách này là cái di chứng của cách mạng không phải là chết chóc mà là sự sợ hãi. Và sự sợ hãi các di chứng của cách mạng không chỉ có trong người dân mà có ngay trong cả những người lãnh đạo, những người cầm quyền. Các cuộc cách mạng luôn kéo theo sự sợ hãi, sự bất ổn định tinh thần, làm con người dừng lại không sáng tạo. Nếu như chúng ta tạo ra một trạng thái yên ổn thì mọi người đều có thể là tư tưởng của riêng mình, mọi người đều có thể trở thành nhà khoa học của riêng mình. Do đó, tỷ lệ con người có năng lực sáng tạo sẽ lớn hơn, phổ biến hơn và điều đó làm cho nhân loại trở nên tiết kiệm hơn. Cho nên, luận điểm của tôi là luận điểm nhân loại không còn đủ sức chịu đựng các cuộc cách mạng. Nói cho cùng, các cuộc cách mạng diễn ra trong thực tế đời sống của lịch sử nhân loại cũng không nhiều lắm, mà hậu quả của nó đã ghê gớm như vậy. Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết là kết quả của cách mạng. Nhân cái đà đấy, người ta đã tạo ra một quốc gia là kết quả của sự cưỡng bức rất nhiều thứ. Và nói rằng cách mạng là một cơ hội lớn cho rất nhiều kẻ cơ hội.”
TMH : Đoạn văn dài dòng trên ông Bạt nói mình ớn cách mạng đến tận cổ. Rằng cách mạng thay đổi xã hội lần nữa thì có mà tan xã hội ta đang đồng thuận đoàn kết trong sáng hôm nay. Ông Bạt tỏ ra dị ứng với các loại cách mạng cam quýt nhài nhiếc…vừa qua lắm lắm. Hãy xây dựng hòa bình vĩnh cửu để đảng ta lãnh đạo ít nhất là đến thế kỷ thứ XXIII…như ông đề cập tới trong bài nói…
NTB: “Cứ xem các bài báo của Việt kiều là các anh có thể nhận ra và phân loại được ngay. Văn phong của một anh Việt kiều ở Đức khác hẳn với văn phong của anh Việt Kiều ở quận Cam, văn phong của anh Việt Kiều ở quận Cam khác hẳn với văn phong của anh Việt Kiều ở Washington DC … Họ vẫn nói xấu những người cộng sản nhưng nếu được chụp chung ảnh với những người lãnh đạo cao cấp thì họ vẫn rất sung sướng. Đấy là sự thật.”
TMH: Đoạn văn trên là văn tấu hài của ông Bạt đưa anh Việt kiều bên Âu Mỹ ra chọc quê …Hình như ông Bạt muốn nói rằng ông Võ Văn Ái bên Pháp, ông Ngô Nhân Dụng ( Đỗ Qúy Toàn) bên Mỹ chửi cộng sản rất hay nhưng bụng muốn về chụp ảnh với các bác Sang – Trọng-Hùng – Dũng lắm lắm A men !
NTB: “Tôi không nghĩ rằng dân chủ hóa thì nhân dân sẽ chống Đảng, ngược lại, có khi nhân dân còn công kênh Đảng lên. Nếu người ta biết chắc rằng các anh đang tổ chức và lãnh đạo một tương lai mà ở đó nhân dân tự do thì nhân dân rất sợ các anh bỏ đi. Các anh không tưởng tượng được rằng nếu Đảng làm được như thế thì xã hội rất sợ Đảng bỏ đi. Giữa việc nếu ta đi thì họ níu và việc bắt họ phải chịu đựng ta thì việc nào hơn?”
TMH : Hình như đoạn văn trên cũng là văn tấu hài của ông Bạt. Đảng bảo đảng đã mang tự do hạnh phúc cho dân ta gấp tỉ lần tư bản. Ông Bạt thay mặt dân xuýt khóc chỉ vì sợ đảng không thích lãnh đạo bỏ dân ta lại mà đi chơi theo ông Tập Cận Bình hay theo ông Marx Lenine phiêu diêu cõi đại đồng trước dân, bỏ ông Bạt và dân mồ côi mồ cút …Ông Bạt khuyên mọi người nhanh tay níu áo, níu chân đảng lại, đừng để đảng bỏ đi chơi không thèm lãnh đạo, bỏ dân tộc Việt Nam bơ vơ khóc sưng mắt mà ơ ơ khơ khơ …
Sài Gòn ngày 26-9-2012
Trần Mạnh Hảo
 Tác giả gửi cho NTT blog
This entry was posted on 27/09/2012, in Báo chí.

Bàn về sự ngụy biện của ông Trần Bạt

BÀN VỀ SỰ NGỤY BIỆN

CỦA ÔNG NGUYỄN TRẦN BẠT

Trần Mạnh Hảo

.

Trên blog “Lớp AO – Khóa  9” có in bài nói chuyện của ông Nguyễn Trần Bạt với các nhà lý luận chính trị hàng của đảng cộng sản Việt Nam với nhan đề :

Tôi làm hết sức mình để “giải độc cho thế hệ trẻ”– Nguyễn Trần Bạt”

http://lopa0khoa9.wordpress.com/tag/nguy%E1%BB%85n-tr%E1%BA%A7n-b%E1%BA%A1t/

(Qúy bạn đọc có thể đánh từ khóa : “Nguyễn Trần Bạt nói chuyện với các nhà lý luận chính trị” vào website : http://google.com là tìm được bài này). Chúng tôi xin phép trao đổi với nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt về một số nội dung trong bài diễn thuyết này của ông.

Tiếp tục đọc

Chủ tịch Hồ Chí Minh bị gán cho câu nói lạ

NGUYỄN TƯỜNG THỤY

Trong “Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 17/7/1966, có câu “Không có gì quý hơn độc lập tự do”
Lời kêu gọi này được phát nhiều lần trên Đài Tiếng nói Việt Nam và in trên báo chí phát hành trên Miền Bắc khi đó.
Thuở ấy, tôi mới là học sinh lớp 6 sắp lên lớp 7 (hệ 10 năm). Chương trình học văn của chúng tôi liên tục bám sát các sự kiện lớn của đất nước. Các cuốn “Phụ lục trích giảng văn học” được bổ sung kịp thời trong chương trình giảng dạy.

Bố tôi là giáo viên. Nhà trường lúc đó chỉ có lớp học chứ không có văn phòng nên báo chí được chuyển đến nhà tôi hàng ngày (vì bố tôi là giáo viên duy nhất người địa phương), gồm báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Người giáo viên nhân dân. Tôi là người ham đọc nên không bỏ sót bất cứ bài viết nào trên mấy tờ báo ấy. Hồi ấy không có đài, nên so với bọn bạn, tôi là người đọc được “Lời kêu gọi … ” đầu tiên. Các tin thắng trận ở Miền Namtôi đọc gần như thuộc lòng, ví dụ trận Vạn Tường ta tiêu diệt hơn 900 tên địch, trận Bàu Bàng tiêu diệt 2040 tên… Không thấy phe ta hy sinh anh giải phóng quân nào.

(Tuy nhiên bây giờ truy cập vào wikipedia thì thấy không phải như vậy)
Có câu đố trên báo Thiếu niên tiền phong như sau:
Một cây leo như bí đao (bầu)
Một cây cao cao tán xỏe (bàng)
Hai vần ghép lại mà nghe
Mỹ nghe long óc, ta nghe vui mừng.
để chỉ chiến thắng Bàu Bàng.
Nhà tôi hồi ấy đói rời đói rạc, đứt bữa là chuyện thường, nhưng bố con tôi chỉ đọc tin thắng trận từ Miền Namcũng đủ no. Bố tôi xoa đầu thằng con 14 tuổi còi cọc, bảo: “Vậy thì chẳng đến lượt mày ra trận đâu con ạ. Có vào thì chỉ nhặt ống bơ thôi”.
Nói lan man chút cho vui thôi. Trở lại câu nói của Hồ Chủ tịch, sau khi lời kêu gọi được phát ra thì trên các bảng thông tin, các bức tường nhà dân quay ra đường, người ta đều đồng loạt kẻ dòng chữ “Không có gì quí hơn độc lập tự do”. Ít ngày sau, họ lại chữa thành “Không có gì quí hơn độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội”
Trên lớp, chúng tôi nhiều lần phải làm tập làm văn về câu nói đó. Lớp 7 làm, lớp 8 làm, lớp 9 vẫn làm. Nói chung, các đề văn thường là:
Em hãy giải thích và chứng minh câu nói của Bác Hồ: “Không có gì quí hơn độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội”.
Tôi ngạc nhiên, không biết cái cụm từ “và chủ nghĩa xã hội” ai thêm vào, chứ còn lời kêu gọi của Chủ tịch tôi quên sao được. Chẳng lẽ cụ lại nói sai, để người khác phải bổ sung vào? Hay là đài, báo chí in sót? Nghĩ thế nhưng chúng tôi trẻ con, không có thói quen thắc mắc.
Thế là chúng tôi hăng say giải thích thế nào là độc lập, thế nào là tự do và thế nào là chủ nghĩa xã hội. Tai sao độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội là quí nhất? Sau đó thì tìm cách chứng minh. Khi nước ta mất độc lập, trong vòng nô lệ của thực dân Pháp thì dân ta lầm than như thế nào. Theo thầy giáo hướng dẫn, gợi ý, chúng tôi thường dẫn thơ Tố Hữu (thì ngoài thơ Tố Hữu ra, chúng tôi có thuộc thơ ai nữa đâu), ví dụ:
Cuộc đời đau suốt trăm năm
Chim treo trên lửa cá nằm dưới dao.
(có đứa chẳng biết thế nào nó lại viết thành “Chim kêu trên tổ cá nằm dưới ao“. Cuộc sống như cá lội tung tăng dưới nước, chim kêu ríu rít trên tổ thì thanh bình quá còn gì)
Tiếp theo là phân tích có độc lập rồi nhưng không có tự do thì như thế nào. Lại phải dẫn chứng mấy nước dưới chế độ độc tài, tuy độc lập mà dân vẫn không có tự do vì bị đè nén, áp bức.
Chứng minh được độc lập tự do quí như thế nào rồi lại phải chứng minh tiếp có độc lập tự do nhưng không có chủ nghĩa xã hội thì như thế nào. Đến đây, chúng tôi phải lôi mấy nước tư bản Anh, Pháp, Mỹ ra chứng minh. Rằng tuy các nước ấy có độc lập tự do nhưng không có chủ nghĩa xã hội nên mới sinh ra giai cấp tư sản ngồi mát ăn bát vàng, bóc lột công nhân đến tận xương tận tủy (lúc ấy, chúng tôi chưa biết đến khái niệm giá trị thặng dư của Mác). Bên cạnh các cao ốc trăm tầng thì vẫn có những khu nhà ổ chuột, người lao động làm thuê hàng ngày phải chui rúc vào đấy, tối về trú tạm, sang mai lại chui ra đến nhà máy, công xưởng cho tư bản nó bóc lột tiếp. Không có chủ nghĩa xã hội nên kinh tế phát triển vô tội v, phải đổ cả hàng hóa xuống biển gây lãng phí cho xã hội v. v…
Chúng tôi vừa làm văn, vừa hừng hực căm thù bọn đế quốc, vừa thương nhân dân miền Nam, thương nhân dân Mỹ, sống như thế có thể gọi là con người nữa không. Lúc ấy, tôi tuy phải ăn củ dong trừ bữa nhưng có cho tôi cả núi vàng, tôi không bao giờ chịu đổi thành người Mỹ.
Nói chung, bài làm văn của tôi hay được điểm cao vì tôi rất chăm chú nghe giảng, bắt được lời thầy nên ít khi sót ý.
Sau này, khi xây lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi thấy họ gắn dòng chữ (bằng vàng?): “KHÔNG CÓ GÌ QUÍ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO” chứ không thấy mấy chữ “và chủ nghĩa xã hội” đâu cả. Thì ra họ chỉ truyền đạt miệng cho thầy giáo của chúng tôi để dạy học sinh chứ không dám phát hay viết hẳn lên đài báo chính thức (chắc sợ cụ Hồ biết :)). Lúc ấy tôi càng khẳng định mấy chữ “và chủ nghĩa xã hội” là do ai đó gán cho lời ông cụ. Có điều cần lưu ý rằng, khi chúng tôi thêm “chủ nghĩa xã hội” vào nhóm quí nhất thì cụ Hồ vẫn còn sống. Không biết ông cụ có biết người ta xuyên tạc câu nói của mình như vậy không?
 26/9/2012
NTT

Chủ tịch Hồ Chí Minh bị gán cho câu nói lạ

Chủ tịch Hồ Chí Minh bị gán cho câu nói lạ 

 NGUYỄN TƯỜNG THỤY

.

Trong “Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 17/7/1966, có câu “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

Lời kêu gọi này được phát nhiều lần trên Đài Tiếng nói Việt Nam và in trên báo chí phát hành trên miền Bắc khi đó.

Thuở ấy, tôi mới là học sinh lớp 6 sắp lên lớp 7 (hệ 10 năm). Chương trình học văn của chúng tôi liên tục bám sát các sự kiện lớn của đất nước. Các cuốn “Phụ lục trích giảng văn học” được bổ sung kịp thời trong chương trình giảng dạy. Tiếp tục đọc

Tiếc một thời mơ hoa

Hồi trước tôi mơ làm thi sĩ
Hát ngợi ca quê hương dòng dõi bạn bè
Quê hương tôi
“Người người lớp lớp…”
Dòng dõi tôi
Con Hồng cháu Lạc
Bạn bè tôi
Cốt nhục thâm tình… 

Tôi lấy bút nhúng vào sự thật
Sự thật không sao nhảy nhót
Con chữ run run con chữ nhói lòng…
Quê hương tôi
Người người im lặng
Giòng dõi tôi
Thở hắt ra mệt nhọc
Bạn bè tôi
Cởi lốt người khoác lốt bồi bút lang băm…
Chiếc bút tôi rơi xuống
Thở than la lối
Trách tôi: sao không khuấy cho ngầu đục
Bằng ngôn ngữ vuốt ve mơn trớn mượt mà…?
Tôi buông bút
Bất lực
Tiếc một thời cái ước mơ hoa!!!
Thơ 123
Tác giả gửi cho NTT blog
This entry was posted on 26/09/2012, in Thơ.

Lực cản Nhà nước pháp quyền

NTT blog: Giáo sư Hoàng Xuân Phú hiện công tác tại Viện toán học, Viện khoa học và công nghệ Việt Nam. Ông là Viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm khoa học Heidelberg, Viện sĩ thông tấn của Viện hàn lâm khoa học Bavaria, đại sứ khoa học của quỹ Alexander von Humboldt, Ủy viên Hội đồng các nước đang phát triển của Liên đoàn Toán học thế giới, Tổng biên tập của Vietnam Joumal ò Matthematics.
Ông có những bài viết rất sắc sảo về quyền công dân được ghi trong Hiến pháp, đặc biệt là quyền biểu tình là vấn đề nóng bỏng hiện nay. NTT blog trân trọng giới thiệu một bài viết mới của ông
======================

Thuở ẩn trong dân cầu đông người tụ tập
Thời ngự trên dân cấm tụ tập đông người
Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà quyền lực của nó gắn chặt với pháp luật, tức là mọi quyền hạn của nó được quy định bằng pháp luật và mọi hành xử của nó phải tuân theo pháp luật.
Pháp luật do bộ máy cầm quyền viết ra, làm công cụ để quản lý và điều khiển xã hội. Vấn đề then chốt của Nhà nước pháp quyền là bản thân giới cầm quyền cũng phải tuân theo những quy định pháp luật do chính họ đề ra. Một khi họ đã có lợi thế là được ban hành pháp luật theo “khẩu vị” của mình, thì việc chấp hành chúng không phải là quá khó. Lẽ ra là thế, nhưng tiếc thay, sự đời lại không đơn giản như vậy.

Báo cáo chính trị , Báo cáo về các văn kiện đại hội và Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đều thừa nhận là “Công tác… xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… chuyển biến chậm” . Tại sao như vậy? Phải chăng vì “thần dân” lạc hậu, cứng đầu, ỳ ra không chịu tiến bước theo hối thúc của “đấng chăn dắt”? Không phải thế! Dân ta thuộc loại “dễ bảo” nhất, thường chấp nhận mọi mệnh lệnh, kể cả những mệnh lệnh phi lý.
Chỉ cần chính quyền thực tâm mong muốn, thì có thể thay đổi tức khắc cả những tập quán tưởng như cố hữu của cả xã hội, ví dụ như chuyện cấm đốt pháo và bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy. Tiếc rằng, lực cản lớn nhất đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền lại đến từ bộ máy cầm quyền. Họ lạm quyền, vượt khỏi quyền hạn do chính họ ghi vào pháp luật. Họ vi phạm những quy định do chính họ ấn định trong pháp luật.Vậy thì làm sao có thể xây dựng được Nhà nước pháp quyền? Nêu tấm gương phản diện như vậy, thì làm sao có thể đòi hỏi muôn dân tôn trọng và chấp hành pháp luật?
Để minh họa cho nhận định trên, ta hãy cùng nhau xem xét một số ví dụ về sự tùy tiện, vi phạm pháp luật trong việc ban hành và vận dụng các văn bản pháp quy để xử lý quyền biểu tình và quyền khiếu nại của công dân.
Ví dụ điển hình là Nghị định Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng số 38/2005/NĐ-CP (mà chính quyền vẫn quen gọi là “Nghị định 38”), do Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 3 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 8 tháng 4 năm 2005. Nó được viện dẫn để trấn áp các cuộc biểu tình yêu nước, bảo vệ chủ quyền biển đảo trong hai mùa hè 2011 – 2012, và để bắt giữ một số người tham gia. Vì những người biểu tình có ý thức nhắc nhở nhau giữ gìn trật tự và không có hành động quá khích, nên khó mà lấy lý do làm mất trật tự công cộng để xử lý. Do đó, người ta hay quy kết là những người biểu tình vi phạm Nghị định số 38-2005-NĐ-CP ở chỗ “tập trung đông người ở nơi công cộng” mà không “đăng ký trước” . Đấy là khi lý lẽ còn được coi trọng đôi chút. Còn bình thường thì những người biểu tình bị vu luôn cho tội làm mất trật tự công cộng, để có cớ xử lý theo Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, mặc dù âm lượng họ phát ra, cũng như mức độ ảnh hưởng tới giao thông và cuộc sống của nhân dân trong khu vực lân cận, không bằng một phần nghìn so với những dịp mà chính quyền chiếm dụng các khu vực công cộng để tổ chức một số sự kiện. Hơn nữa, bất cứ ai đã trực tiếp chứng kiến các cuộc biểu tình yêu nước cũng có thể dễ dàng nhận ra rằng: Chính những người được điều đến để trấn áp biểu tình mới gây rối loạn xã hội và làm mất trật tự công cộng.
Câu hỏi đặt ra là: Nghị định số 38-2005-NĐ-CP có hợp hiến, hợp pháp hay không và có thể áp dụng nó để ngăn cản biểu tình ôn hòa hay không? Tôi đã đề cập đến vấn đề này trong bài “Quyền biểu tình của công dân” , với hy vọng là những người có trách nhiệm sẽ xem xét lại và nhận ra những điều bất cập. Nhưng Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vẫn được viện dẫn như chân lý để cản trở và trấn áp biểu tình. Bởi vậy, với bản năng coi trọng chuyện phân biệt đúng-sai của người nghiên cứu khoa học , tôi đành phải bỏ thời gian viết thêm bài này, mặc dù không muốn bước sang sân của các chuyên gia luật học.
Sau đây ta sẽ không xem xét mọi khía cạnh của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và văn bản liên quan, mà chỉ chọn ra mấy ý, đủ để lập luận rằng Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vi phạm Hiến pháp, pháp luật và không thể dùng nó để hạn chế quyền biểu tình của công dân được quy định trong Hiến pháp.
Quy định của Hiến pháp, pháp luật và quyền hạn của Chính phủ
 Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp , lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật .”
Không phải đến năm 1992 thì quyền biểu tình mới được Hiến pháp công nhận. Giống như Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (xem Phụ lục 1) và Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức (xem Phụ lục 2), Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946 (xem Phụ lục 3) bảo đảm quyền tự do hội họp , trong đó mặc nhiên bao gồm cả quyền tự do biểu tình , theo đúng thuật ngữ pháp lý quốc tế. Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1960 (xem Phụ lục 4), Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980 (xem Phụ lục 5) và Hiến pháp 1992 tách riêng quyền biểu tình , đặt bình đẳng bên cạnh quyền hội họp , nghĩa là quyền biểu tình được nhấn mạnh hơn trước. Thay cho trạng từ “tự do”(trong cụm từ “tự do hội họp” và “tự do biểu tình” ) ở các Hiến pháp 1946, 1960 và 1980, Hiến pháp 1992 đưa thêm quy ước “theo quy định của pháp luật”. Điều này mở đường cho việc ban hành các văn bản pháp luật để điều tiết, hạn chế việc hội họp , lập hội và biểu tình trong một khuôn khổ nào đó. Song chỉ Quốc hội mới có quyền ban hành các văn bản pháp luật ấy, bởi vì:
” Quc hi là cơ quan duy nht có quyn lp hiến và lp pháp.
(Điều 83, Hiến pháp 1992 )
Cho đến nay, Quốc hội chưa ban hành luật hay điều luật nào để điều tiết hoặc hạn chế quyền biểu tình . Điều đó có nghĩa là: Không (hoặc chưa) có ràng buộc pháp luật nào đối với quyền biểu tình , và vì vậy công dân hoàn toàn có quyền tự do biểu tình ôn hòa, không phải làm thủ tục đăng ký, xin phép nào cả.
Trong tất cả 11 khoản của Điều 112, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ, Hiến pháp 1992 không có bất cứ khoản nào cho phép Chính phủ ban hành nghị định để hạn chế hay can thiệp vào quyền tự do của công dân được ghi trong Hiến pháp (xem Phụ lục 6) .
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN , được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 11 năm 1996, quy định:
 Nghị định của Chính phủ bao gồm :
A) Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ thành lập; các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ;
B) Nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.”
(Điều 56, Khoản 2, Luật 52-L/CTN)
Tuân theo Hiến pháp 1992, mục A) chỉ cho phép Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết thi hành luật và các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, ban hành nghị định về tổ chức và điều hành bộ máy Chính phủ và các cơ quan cấp dưới, chứ không được phép ban hành nghị định để hạn chế quyền công dân khi chưa có luật liên quan . Mục B) chấp nhận một trường hợp ngoại lệ, nhưngkhông thể xếp ” quyền hội họp, biểu tình” vào phạm trù “chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật” , bởi nó đã được Hiến pháp quy định từ năm 1946 và được tái khẳng định trong cả 3 lần thay đổi Hiến pháp 1960, 1980 và 1992.Nếu quan niệm là “chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật” để điều tiết  quyền hội họp, biểu tình” , thì hóa ra cho rằng Quốc hội thời 1946, 1960, 1980 và 1992 viển vông, bộp chộp, nên mới đưa vào Hiến pháp những quyền công dân mà đến tận năm 2012 vẫn chưa chín muồi để  xây dựng thành luật” .
Như vậy, chưa cần xét đến nội dung của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, ta đã có thể kết luận rằng: Hoặc là Nghị định số 38-2005-NĐ-CP không hề can thiệp tới  quyền hội họp, biểu tình” của công dân , hoặc là có can thiệp, thì đã vi phạm quy định của Hiến pháp và pháp luật về quyền hạn của Chính phủ, để cản trở các quyền hiến định .
Nghị định số 38/2005/NĐ-CP
Cơ sở pháp lý duy nhất được nêu trong phần mở đầu của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP là:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001.”
Nghĩa là hoàn toàn không có mệnh đề
“Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
như các văn bản luật thông thường. Hiển nhiên, một văn bản pháp quy không căn cứ vào Hiến pháp thì không thể chi phối các quyền công dân được ghi trong Hiến pháp.
Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP được viết nguyên văn như sau:
” Điều 7. Quy định về tập trung đông người ở nơi công cộng
Việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước với Ủy ban nhân dân có thẩm quyền nơi diễn ra các hoạt động đó và phải thực hiện đúng nội dung đã đăng ký. Quy định này không áp dụng đối với các hoạt động do các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức.”
Chỉ riêng điều luật khá ngắn này đã chứa đựng nhiều cái sai trái, vi phạm Hiến pháp và pháp luật.
Cái sai đầu tiên là việc sử dụng thuật ngữ. “Tập trung đông người” là gì? Đấy không phải là một thuật ngữ pháp lýchính xác, phổ thông , và không hề xuất hiện trong cả bốn bản Hiến pháp của Việt Nam. Ngược lại, Nghị định số 38-2005-NĐ-CP hoàn toàn tránh, không nhắc đến thuật ngữ pháp lý cơ bản “hội họp” và “biểu tình” , được sử dụng trong các Hiến pháp. Vì sao lại như vậy? Phải chăng vì không muốn chấp nhận và muốn tránh gợi cho dân nhớ tới quyền “hội họp” và “biểu tình” ? Hay vì họ biết rõ Hiến pháp và pháp luật không cho phép Chính phủ ban hành nghị định để hạn chế những quyền hiến định ấy, nên mới chơi chữ để lách luật và để sau này nếu bị phản đối thì có thể đổ cho cấp dưới vận dụng sai? Liệu có nên dùng thuật ngữ “tập trung đông người” để chỉ các cuộc họp Quốc hội, họp Trung ương và Bộ chính trị của Đảng CSVN, và họp Chính phủ hay không? Vì sao? Như vậy là thiếu tôn trọng ư? Nếu thế thì sao lại dùng cụm từ ấy để chỉ một hình thức hoạt động hoàn toàn chính đáng của nhân dân? Bao nhiêu thì bắt đầu coi là “đông người” ? “Tổ chức chính trị – xã hội” là gì? Nếu chỉ dựa vào ngôn ngữ phổ thông, thì không chỉ mặt trận hay công đoàn, mà một số tổ chức bị chính quyền quy là phản động và cấm hoạt động cũng là “tổ chức chính trị – xã hội” . Chẳng nhẽ công dân bình thường muốn tập trung thì phải “đăng ký trước” , còn mấy tổ chức bị chính quyền coi là xấu lại được tự do tổ chức tập trung ở nơi công cộng hay sao? Thuật ngữ “tập trung đông người” được dùng 21 lần trong Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, nhưng không hề được định nghĩa hay giải thích. Thuật ngữ “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” và “tổ chức chính trị – xã hội” cũng chịu chung một số phận. Như vậy, Nghị định số 38-2005-NĐ-CP đã vi phạm Điều 5 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN :
” Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông , cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn bản .”
Cái sai thứ hai liên quan đến tính khả thi và thực thi. Luật số 52-L/CTN quy định như sau:
” Điều 7. Văn bản quy định chi tiết thi hành
1- Luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác phải được quy định cụ thể để khi các văn bản đó có hiệu lực thì được thi hành ngay .
Trong trường hợp luật, pháp lệnh có điều, khoản cần phải được quy định chi tiết bằng văn bản khác, thì ngay tại điều, khoản đó, phải xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và thời hạn ban hành văn bản .
2- Văn bản quy định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trìnhcơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực . 
Rõ ràng, khi chưa biết bao nhiêu là “đông người” và cấp nào là “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” cấp phép “tập trung đông người ở nơi công cộng” thì không thể “thi hành ngay” khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP “có hiệu lực”.Hơn nữa, “ngay tại” Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP không hề “xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và thời hạn ban hành văn bản” để quy ước mức gọi là “đông người” và cấp gọi là “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” . Trên thực tế, cái “văn bản quy định chi tiết thi hành” cũng không được “kịp thời ban hành”khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP “có hiệu lực”. Điều 14 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP viết rằng: “Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.” Và ngày công báo của nghị định này là 24/03/2005 . Trong khi đó, Thông tư số 09/2005/TT-BCA hướng dẫn thi hành Nghị định số 38-2005-NĐ-CP được Bộ Công an ban hành ngày 5 tháng 9 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2005. Tức là khoảng 6 tháng sau khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP có hiệu lực thì mới có văn bản để quy định thế nào là “tập trung đông người ở nơi công cộng” và cấp nào là “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” cấp phép. Vậy là Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vi phạm cả 3 ý trong Điều 7 của Luật số 52-L/CTN.
Cái sai thứ ba thuộc về tư duy lô-gíc, liên quan đến sự tồn tại của chủ thể hành động. Để đăng ký thì phải có người đứng ra đăng ký (xem Phụ lục 2). Nhưng đối với những cuộc tập trung đông người tự phát, không có người tổ chức , thì ai là người phải đứng ra đăng ký? Cuộc sống luôn có nhiều cuộc tập trung tự phát, không hề có người tổ chức. Ví dụ, khi hàng trăm, hàng nghìn người kéo đến Hồ Gươm xem rùa nổi lên, hay khi hàng chục người xếp hàng trước cổng để chờ đợi đến lượt vào chúc tết và trao phong bì cho lãnh đạo, thì ai phải đi đăng ký? Hơn nữa, khi mọi người buộc phải tập trung ngoài ý muốn, như khi bị tắc đường chẳng hạn, thì ai tự nguyện đi đăng ký?Ngay cả biểu tình cũng có nhiều cuộc hoàn toàn tự phát, không hề có người đứng ra tổ chức . Kể cả khi có lời kêu gọi của ai đó thì không có nghĩa là người đó tổ chức . Trước năm 1973, khi các cơ quan, đoàn thể của Việt Namkêu gọi nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh thì không có nghĩa là phía Việt Nam đứng ra tổ chức phong trào phản chiến ở Mỹ. Ngày nay, khi một số người lãnh đạo kêu gọi chống tham nhũng thì không có nghĩa là họ đứng ra tổ chức chống tham nhũng.
Cái sai thứ tư cũng thuộc về tư duy lô-gíc, là không thể tiến hành thủ tục đăng ký trước nếu lý do để nhiều người tập trung là một sự kiện xảy ra đột ngột, mang tính thời sự (xem Phụ lục 2). Ví dụ như khi có tai nạn giao thông hay hỏa hoạn, thì mọi người phải tập trung ứng cứu ngay, chứ không thể nộp đơn đăng ký và đợi một tuần để được phép tập trung. Đối với biểu tình cũng tương tự: Nếu bị tác động bởi một sự kiện mang tính thời sự, vừa mới xảy ra, thì mọi người có nhu cầu thể hiện thái độ ngay lập tức, chứ không thể chờ đợi thêm một tuần nữa với hy vọng sẽ được cấp phép, vì nếu sự kiện gây bức bối trôi qua lâu rồi mới biểu tình phản đối, thì cũng vô duyên như nghe chuyện tiếu lâm hôm trước rồi hôm sau mới cười nắc nẻ.
Cái sai thứ năm là xâm phạm quyền sinh sống, quyền hoạt động tối thiểu của con người. Biết bao hoạt động thông thường của con người có thể quy về trạng thái “tập trung đông người ở nơi công cộng”. Tập thể dục ở công viên, đi chợ, chờ đợi ở bến ô-tô buýt, cùng có mặt ở trường học hay chỗ làm việc, ăn uống ở quán, và bao hoạt động khác nữa đều là “tập trung đông người ở nơi công cộng” , chứ không chỉ có biểu tình hay tập trung khiếu kiện. Vậy mà Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP đòi hỏi mọi “việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước” , chỉ chừa ra “các hoạt động do các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức.” Còn ở đâu trên thế giới có một quy định kỳ lạ như thế nữa không? Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP không chỉ xâm phạm quyền công dân được quy định trong Hiến pháp, mà xâm phạm cả quyền sinh sống sơ đẳng của con người – theo mọi thước đo trên đời.
Chỉ riêng Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, với vẻn vẹn 83 chữ, đã chứa nhiều cái sai như vậy. Vậy nghị định này có xứng đáng với vai trò của một văn bản quy phạm pháp luật để quản lý xã hội và bắt nhân dân phải tuân thủ hay không?
Thông tư số 09/2005/TT-BCA
Để định nghĩa khái niệm “tập trung đông người ở nơi công cộng” , Điểm 4.1 của Thông tư số 09/2005/TT-BCAviết nguyên văn như sau:
“4.1. Hoạt động tập trung đông người ở nơi công cộng theo quy định của Nghị định số 38 và hướng dẫn tại Thông tư này là những trường hợp tổ chức tập trung từ 5 người trở lên tại các khu vực, địa điểm phục vụ chung cho mọi người như vỉa hè, lòng đường, quảng trường, cơ sở kinh tế, văn hóa, nơi sinh hoạt cộng đồng; tại khu vực trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội hoặc tại những nơi công cộng khác nhằm mục đích đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức hoặc nhằm đưa ra những yêu cầu, kiến nghị về những vấn đề có liên quan chung đến đời sống chính trị – xã hội , đếnquyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác .”
Theo định nghĩa trên thì “tập trung đông người” phải là “những trường hợp tổ chức tập trung” . Tức là: Để khắc phục cái sai thứ ba của Điều 7 thuộc Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, Thông tư số 09/2005/TT-BCA đã bổ sung thêm từ “tổ chức” , nhằm có được chủ thể hành động cho việc “đăng ký trước” . Vì vậy, hai văn bản này chỉ còn chi phối những trường hợp tập trung có tổ chức. Thế thì tại sao hai văn bản này vẫn được viện dẫn để xử lý các cuộc biểu tình tự phát, không có người đứng ra tổ chức?
Tiếp theo, thông tư này quy ước “tập trung từ 5 người trở lên” đã là “tập trung đông người” . Dựa vào cơ sở nào mà bảo “5 người” là “đông” ? Nếu trong chợ, ngoài đường, ở vườn hoa hay trên sân vận động… chỉ có 5 người, thì tiếng Việt gọi là vắng, là lèo tèo, là ít người, chứ không thể gọi thế là “đông người” được. Vậy là Thông tư số 09/2005/TT-BCA lại vi phạm Điều 5 của Luật số 52-L/CTN , quy định :
” Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông …”
Thật là phi lý, nếu một gia đình hay một nhóm bạn bè có 5 người đi cùng nhau đã bị gán cho cái nhãn “tập trung đông người ở nơi công cộng” và phải “đăng ký trước với Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” . Tất nhiên, nếu cứ“tập trung từ 5 người trở lên” ở nơi công cộng là “phải đăng ký trước” , theo đúng quy định của Điều 7 thuộc Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, thì xã hội sẽ đại loạn, và dù bộ máy chính quyền có dồn hết nhân lực, thời gian để duyệt đơn và cấp phép cho “tập trung đông người ở nơi công cộng” thì cũng không thể làm xuể. Do đó, để chữa cái sai thứ năm của Điều 7 thuộc Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, vế sau của Điểm 4.1 thuộc Thông tư số 09/2005/TT-BCA đành phải hạn chế phạm vi chi phối là những trường hợp tập trung
“… nhằm mục đích đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức hoặc nhằm đưa ra những yêu cầu, kiến nghị về những vấn đề có liên quan chung đến đời sống chính trị – xã hội , đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác .”
Có nghĩa là: Khi  tập trung” , dù “đông người” và có “tổ chức” , nhưng không “nhằm mục đích” kể trên, thì không thuộc vào phạm trù ” tập trung đông người ở nơi công cộng theo quy định của Nghị định số 38 và hướng dẫn tại Thông tư này”, và vì vậy không  phải đăng ký trước “ . Ví dụ: Khi phía Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, thì những người biểu tình yêu nước chỉ phản đối hành động đó của “láng giềng tốt”, chứ không hề“đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị” đối với chính quyền Việt Nam, và điều họ phản đối chỉ liên quan đến danh dự và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc , chứ không hề “liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức” , hay “đời sống chính trị – xã hội” , hay “quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác”.Cho nên, theo vế sau của Điểm 4.1 thuộc Thông tư số 09/2005/TT-BCA, biểu tình yêu nước không thuộc đối tượng chi phối của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và vì thế không “phải đăng ký trước” (kể cả trường hợp có người đứng ra tổ chức). Vậy thì tại sao người ta vẫn viện dẫn Nghị định số 38-2005-NĐ-CP để trấn áp biểu tình yêu nước ôn hòa và bắt bớ những người tham gia?
Thế mới biết, một khi đã bất chấp, tùy tiện sinh ra thuật ngữ “tập trung đông người” , thì không dễ khắc phục cái sai của nó.
Hội chứng sợ đông người
Những phân tích ở hai phần trên chỉ ra rằng:
–          Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Khi Quốc hội không hoặc chưa ban hành luật hay điều luật tương ứng thì Chính phủ không có quyền ban hành nghị định để hạn chế quyền biểu tình của công dân được quy định trong Hiến pháp.
–          Việc các cơ quan chính quyền, công an viện dẫn Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA để trấn áp các cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa và bắt bớ một số người tham gia là sai về nhiều phương diện, không chỉ sai so với Hiến pháp và pháp luật, mà sai so với chính Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA, bởi theo định nghĩa trong Thông tư số 09/2005/TT-BCA thì các cuộc biểu tình yêu nước đã diễn ra ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong hai mùa hè 2011-2012 không thuộc phạm trù ” tập trung đông người ở nơi công cộng theo quy định của Nghị định số 38 và hướng dẫn tại Thông tư này “.
Tại sao lại có thể soạn thảo và ban hành một nghị định đầy sai trái như vậy? Phải chăng nó được sinh ra gấp gáp, để đối phó với phản ứng khắp nơi của người dân trước nạn mất đất tràn lan?
Đất đai người dân đang sử dụng để sinh sống, thì đột nhiên bị trưng thu với giá bồi thường rẻ mạt, nhân danh sở hữu Quốc gia để lấy đi, rồi trao cho… các đại gia. Nơi thì chiếm dụng lâu dài, nơi thì tiến hành mấy thao tác đầu tư, rồi đem bán lại với giá cao gấp bội, khiến chủ cũ ngẩn ngơ, vì có khi chồng hết số tiền được đền bù cho cả trăm mét vuông đất cũng chỉ đủ để mua lại mấy mét vuông. Chợ thì dân đang họp, thậm chí mới buộc phải góp tiền xây chợ chưa lâu, nay lại bị giải tỏa để xây siêu thị của… tư nhân. Chẳng nhẽ các nạn nhân phải nín chịu, để tỏ ra là đang mãn nguyện trong tự do, hạnh phúc hay sao? Bất công quá, không chịu nổi thì họ phải lên tiếng. Nhiều người cùng cảnh, cùng nạn, thì cùng khiếu nại. Thế là bị gán cho cái nhãn “tập trung đông người” và “khiếu kiện đông người” . Theo báo cáo tại phiên họp Quốc hội ngày 1 tháng 11 năm 2006, 80% các vụ khiếu kiện đông người là liên quan đến đất đai, chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng .
Có bất công trầm trọng thì hàng trăm người dân mới bỏ cả công việc kiếm sống mà cùng nhau đi khiếu nại .Những người dân vốn dĩ lành như cục đất, mấy chục năm qua Đảng CSVN bảo gì nghe nấy, quen tuân thủ bất cứ mệnh lệnh nào của chính quyền, vậy mà bây giờ họ phải cùng nhau lên tiếng. Trong số “đông người” ấy có cả những gia đình đã cưu mang bao thế hệ lãnh đạo, có nhiều người đã vào sinh ra tử vì Tổ quốc… Không chỉ bảo vệ lợi ích cá nhân, đòi lại công bằng, mà hành động của họ còn vạch trần sai trái, tố cáo tham nhũng, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thủ phạm chính “gây mất trật tự, an ninh” là phía gây chuyện bất công, nhưng lại không bị lên án, không bị xử lý. Thay vào đó, cái tội “gây mất trật tự, an ninh” lại được chụp lên đầu các nạn nhân, làm lý do để ngăn cản họ đồng thanh lên tiếng. Chẳng nhẽ “vì dân” có nghĩa là “cái gì xấu cũng vì dân” hay sao?
Nếu thực tâm muốn giải quyết ổn thỏa bức xúc của người dân, thì giải quyết chung trong một vụ khiếu nại sẽ đỡ tốn công hơn nhiều so với chẻ nhỏ thành hàng trăm vụ khiếu nại giống hệt như nhau. Hơn nữa, để cho nhiều người dân không đồng thanh khiếu nại thì phải chấn chỉnh, ngăn chặn tệ nạn chiếm đất tràn lan của dân để giao cho tư nhân mà không đền bù thỏa đáng. Nhưng lại gán cho “tập trung đông người” và “khiếu kiện đông người” cái nguyên nhân là “do kẻ xấu, thế lực thù địch xúi giục” và cái tội là “gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh và trật tự công cộng” . Phải chăng quy kết như vậy để có lý do ngăn cản những “người cùng khổ” đoàn kết với nhau đòi lại công bằng?
Để ngăn cản “tập trung đông người” thì sử dụng Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA.Để ngăn cản “khiếu kiện đông người” thì sử dụng thêm Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP , trong đó không chấp nhận “đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người” , mặc dù Hiến pháp 1992 chấp nhận “quyền khiếu nại” không hạn chế và Luật khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10 chấp nhận đích danh việc “nhiều người khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung” và “cử đại diện để trình bày” , nghĩa là chấp nhận những vụ khiếu nại của nhiều người cùng đứng tên (xem Phụ lục 7). Ngoài các đường dây tham nhũng, các “nhóm lợi ích”, những biện pháp ngăn cản bất chấp Hiến pháp và pháp luật bảo vệ được ai?
Chẳng nhẽ “có tật giật mình“, biết rõ mình đã phạm những tội gì đối với dân, với nước, nên sợ rằng nếu sau này nhân dân biết được sự thật thì sẽ không thể dung tha, do đó phải ngăn chặn phản ứng từ xa hay sao?
“Cây ngay không sợ chết đứng.” Nếu chính quyền thực sự vì dân, vì nước, chỉ làm điều tốt, thì chắc chắn sẽ được đại đa số nhân dân ủng hộ. Khi đó, nếu dân có “tập trung đông người” thì cũng chỉ để mít tinh ca ngợi, hoặc để bảo vệ chính quyền trước thù trong, giặc ngoài (nếu có) mà thôi. Nếu họ tập trung đưa ra kiến nghị, góp ý, thì cũng chỉ nhằm giúp cho chính quyền tốt đẹp hơn nữa. Vậy thì việc gì phải tìm cách ngăn cản “tập trung đông người” ?
Giành được chính quyền là nhờ có “đông người” che chở, giúp đỡ. Thắng được kẻ thù trong chiến tranh cũng nhờ vận động được “đông người” hy sinh xương máu. Thuở phải dựa vào dân, trăm sự cậy nhờ dân, thì càng đông càng tốt, hy sinh triệu người vẫn chưa nản. Sao bây giờ lại sợ “đông người” làm vậy?
Sai đến bao giờ?
Phải chăng, vì chăm chăm nhằm vào mục tiêu dẹp phản ứng của những người dân bị mất đất đai, tài sản… và vì năm 2005 chưa thấy có dấu hiệu của biểu tình, nên Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA chủ yếu nhằm vào những đoàn người kéo nhau đi khiếu nại? Và phải chăng vì thế mà Điểm 4.1 của Thông tư số 09/2005/TT-BCA mới đưa ra định nghĩa về “tập trung đông người” chỉ là ” nhằm mục đích đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức …” , khiến nó không bao gồm được “biểu tình yêu nước” ? Thôi thì đã lỡ viết ra như vậy thì đành lòng vậy. Chính phủ và Bộ Công an đã áp đặt những quy định theo ý muốn chủ quan của mình, thì cũng nên tôn trọng và áp dụng đúng các quy định của chính mình , cớ sao “cấm chó mà lại đòi bắt trâu”?
Vì sao chính quyền, công an, trong đó có bao người gắn đủ thứ bằng cấp, vẫn hùng hồn viện dẫn Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA để cấm đoán và trấn áp biểu tình yêu nước? Phải chăng họ chưa hề đọc hai văn bản mà họ thường lấy làm bảo bối, hoặc đã đọc rồi nhưng không hiểu nổi? Nên chăng tổ chức cho các công chức trong bộ máy chính quyền, các sĩ quan và chiến sĩ công an, các cán bộ cơ sở ở cấp phường, cấp xã, và cả lãnh đạo cấp cao… thi đua tìm hiểu Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA?Âu cũng là một hình thức học tập và làm theo… pháp luật.
Vì sao một số người tham gia biểu tình yêu nước vẫn bị sách nhiễu, thậm chí bị hành hạ, dù họ chẳng làm gì phạm pháp? Chẳng nhẽ những người thừa hành đã bị nhào nặn thành robot vô tri, chỉ còn biết tuân theo mệnh lệnh, bất chấp pháp luật, bất chấp đúng sai hay sao?
Có chút cương vị trong bộ máy cầm quyền thì nhiều vị đã suy nghĩ và hành động như “quan phụ mẫu”, như thể là bố mẹ của dân. Cho nên mới đòi dạy dỗ thiên hạ, và còn ” nặng lời vì nói nhẹ không nghe “. Thật “ngộ” khi “cán bộ mầm non” lại đòi giáo dục người về hưu . Thật trớ trêu khi kẻ sai lại lên mặt uốn nắn người đúng, kẻ hiểu biết dưới tầm lại lớn tiếng giáo dục người có trí tuệ tinh thông.
Có thể ai đó sẽ biện hộ rằng đấy chỉ là sai lầm của cấp dưới, do trình độ hạn chế của cán bộ ở cơ sở. Nhưng nghị định là tác phẩm của Chính phủ, đâu phải là bài tập thực hành của cán bộ cấp phường? Tại sao lại có thể sinh ra những văn bản pháp quy vi phạm Hiến pháp và pháp luật như Nghị định số 38-2005-NĐ-CP?
Không thể phủ nhận rằng trình độ kém cỏi là một trong những nguyên nhân khiến các cấp chính quyền vi phạm pháp luật tràn lan. Giả sử những người soạn thảo và ban hành Nghị định số 38-2005-NĐ-CP thông hiểu Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN (là luật chỉ dành riêng cho giới lãnh đạo, chứ không hề liên quan đến dân thường), thì chẳng khó khăn gì để ghi thêm vào đó mấy câu như: Bộ Công an sẽ ban hành thông tư để quy định về khái niệm “tập trung đông người ở nơi công cộng” và cấp “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” cấp phép, và ban hành Thông tư số 09/2005/TT-BCA cùng lúc với Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, để không vi phạm Điều 7 của Luậtsố 52-L/CTN.
Lẽ ra phải đào tạo tử tế trước khi bổ nhiệm nhân sự vào những vị trí quan trọng. Khi được “bổ nhiệm non” thì phải biết điều, nghiêm túc nhìn nhận sự yếu kém của mình, chịu khó học hỏi để nâng tầm hiểu biết và tư duy, nhằm xứng đáng với cương vị đảm nhiệm. Thế nhưng, nhiều vị lại tự đắc với tầm ngồi, ỷ thế cái ghế quyền lực đã leo lên được để làm bừa, ngạo mạn coi thường nhân dân, đòi giáo dục cả bậc thầy và đe nẹt cả những người đã từng vào sinh ra tử nơi chiến trường từ thuở mình còn quấn tã.
Song không thể quy mọi vi phạm Hiến pháp, pháp luật của chính quyền cho sự hạn chế trình độ. Bởi lẽ, nhiều điều không hề quá khó và đã được bao người góp ý, nhưng các “con trời” vẫn không học, không nghe, mà cứ làm ngơ, cố tình làm bằng được theo ý mình, nhiều khi như thách thức dư luận. Lý do quan trọng nhất là thái độ bất chấp pháp luật của quá nhiều người trong bộ máy cầm quyền. Dù kém cỏi đến đâu thì họ cũng phải biết những quyền công dân cơ bản được quy định trong Hiến pháp, và biết rằng mọi văn bản pháp quy khác đều phải tuân theo Hiến pháp. Thế nhưng họ vẫn ngang nhiên phủ định, tìm mọi cách để ngăn cản công dân thực hiện các quyền đó. Phía trên thì ban hành văn bản trái Hiến pháp, pháp luật, để cản trở quyền công dân. Phía dưới thì trên sai bảo gì cũng làm, bất chấp phải trái và cơ sở pháp lý, tuân theo cả những mệnh lệnh mà lãnh đạo cấp trên thừa biết là sai trái, nên cố tình dấu mặt để trốn tránh trách nhiệm và sự lên án của dư luận.
7 năm qua, kể từ khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA có hiệu lực đến nay, cả nước có bao nhiêu trường hợp được cấp phép “tập trung đông người ở nơi công cộng” ? Câu trả lời sẽ nói lên động cơ của những người soạn thảo, ban hành và những người vận dụng hai văn bản ấy. Đó là bức trường thành được dựng lên để ngăn cản, chứ không phải là cánh cổng mở ra để điều tiết. Về thực chất thì họ sợ và hoàn toàn không muốn chấp nhận bất cứ một cuộc biểu tình nào (không do chính quyền tổ chức), bất kể vì mục đích gì và được tổ chức như ra sao. Chính vì vậy, họ tìm mọi cách chống chế để không ban hành luật biểu tình, mặc dù luật biểu tình là phương tiện hợp pháp tốt nhất để hạn chế và kiểm soát biểu tình, và nếu muốn thì họ có thể đưa vào luật những điều khoản quy định ngặt nghèo đến mức trên thực tế khó mà có thể biểu tình được. Rõ ràng, họ phủ định tuyệt đối quyền biểu tình được ghi trong Hiến pháp hiện hành, tức là chống lại Hiến pháp. Khi không thể tiếp tục công khai khước từ, thì giao cho Bộ Công an soạn thảo luật biểu tình. Giải pháp đó giống như trao còi trọng tài cho một trong hai đội bóng giao đấu trên sân, vì mục tiêu của luật biểu tình không chỉ là điều tiết hành động những người tham biểu tình, mà còn khống chế cả cách hành xử của bộ máy công an. Rồi bao giờ luật biểu tình mới thực sự được soạn thảo và được thông qua thì chỉ “trời” mới biết.
Một khi Hiến pháp đã quy định “Công dân có quyền … biểu tình theo quy định của pháp luật” thì chỉ còn có hai hoàn cảnh có thể xảy ra: Hoặc là ban hành luật để hạn chế và điều tiết quyền biểu tình, hoặc là không ban hành luật liên quan thì có nghĩa là công dân có quyền biểu tình không hạn chế. Vấn đề được phép đặt ra không phải là chấp nhận biểu tình hay không, mà chỉ là chấp nhận biểu tình thế nào . Đơn giản như vậy, nhưng nhiều người vẫn không hiểu, hoặc cố tình không chịu hiểu.
Ngay trong Quốc hội cũng có những tiếng nói cực lực phản đối việc thực hiện quyền biểu tình và ban hành luật biểu tình. Đại biểu năng nổ nhất là của Thành phố Hồ Chí Minh, tên là Hoàng Hữu Phước , người nổi tiếng với một số bài viết, như bài “Tôi và Tổng thống Saddam Hussein” . Đại biểu Quốc hội có quyền đề xuất và tham gia sửa đổi Hiến pháp, nhưng lại không được phép phát biểu chống lại Hiến pháp. Điều 3 của Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội số 56 L/CTN , được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1997, quy định: Đại biểu Quốc hội phải“trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” . Vậy mà, ông nghị Phước lại thay lòng trung thành với Hiến pháp bằng lòng trung thành với Chính phủ, và trong khi nhiệt thành thể hiện tinh thần bảo vệ Chính phủ, thì ông lại ngang nhiên chống lại Hiến pháp ngay giữa diễn đàn Quốc hội. Thành thử mới bị nhắc nhở rằng: ” Đại biểu Quốc hội không thể phát biểu vi hiến .” Tiếc rằng, người nhận ra và nhắc nhở vi phạm tối kỵ ấy của ông nghị Phước lại là Luật gia Trần Đình Thu, chứ không phải là Lãnh đạo Quốc hội.
Chiểu theo Hiến pháp 1992, Điều 18 của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội số 05/2003/QH11 , được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003 , quy định:
” Ủy ban thường vụ Quốc hội … đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật , nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần nhất.”
Chắc hẳn không hiếm ” văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật “ . Đã bao giờ Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện nhiệm vụ kể trên hay chưa? Đợi đến bao giờ thì Ủy ban thường vụ Quốc hội mới xem xét và xử lý Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA, cũng như Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP?
Để xây dựng Nhà nước pháp quyền
Muốn có được Nhà nước pháp quyền thì phải phê phán và ngăn chặn, thậm chí phải lên án và nghiêm trị những hành động lạm quyền, vi phạm Hiến pháp và pháp luật của bất kỳ ai trong bộ máy cầm quyền. Phải loại bỏ những người cố tình vi phạm Hiến pháp và pháp luật ra khỏi bộ máy lãnh đạo.
Điều tối thiểu là phải chấp hành triệt để nguyên lý cơ bản, như được ghi trong Điều 146 của Hiến pháp 1992:
“Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.
Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.”
Phải cương quyết chấm dứt tệ nạn ban hành các văn bản pháp quy vi phạm Hiến pháp và pháp luật.
Nếu bộ máy cầm quyền muốn có những quyền hành gì thì cứ trung thực ghi thẳng vào Hiến pháp, và sau đó thì không được lạm quyền, tức là không được vượt quá quyền hạn ấy nữa. Nếu không định chấp nhận những quyền gì của công dân, của xã hội, thì hãy thẳng thắn và can đảm loại bỏ chúng ra khỏi Hiến pháp. Những quyền công dân và quyền của các tổ chức còn tồn tại trong Hiến pháp thì phải tuyệt đối tôn trọng, không được dùng mọi thủ đoạn để cản trở việc thực thi các quyền đó.
Hiến pháp và pháp luật là công cụ để tổ chức, quản lý và điều khiển xã hội, chứ không phải là một thứ trang điểm hay ngụy trang cho chế độ. Không thể lập lờ, tránh ghi vào Hiến pháp những quyền hành mà trên thực tế bộ máy cầm quyền vẫn thực hiện, nhằm tránh mang tiếng xấu. Biết xấu thì đừng làm. Không thể hùng hồn ghi vào Hiến pháp những quyền công dân và quyền của các tổ chức mà bộ máy cầm quyền không chấp nhận trên thực tế. Đừng sĩ diện, giả tạo kiểu nhà giàu keo kiệt: Không muốn cho ai, nhưng lại muốn khoe khoang là mình hào phóng.
Hiến pháp và pháp luật là thước đo của chế độ, là mốc chuẩn cho xã hội. Thước đo mà tùy tiện, mỗi lúc, mỗi nơi áp dụng một khác, thì chỉ làm cho chế độ xộc xệch, méo mó. Mốc chuẩn mà không được chính những người cầm quyền tôn trọng, thì chỉ làm cho xã hội thêm loạn.
Lực cản chính cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đến từ bộ máy cầm quyền, từ giới lãnh đạo. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền thì phải hóa giải được lực cản ấy, nếu không thì Nhà nước pháp quyền cũng chỉ là thứ hữu danh vô thực, giống như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền hội họp, lập hội và quyền biểu tình (được ghi trong Điều 69 của Hiến pháp 1992) mà thôi.
Ghi chú: Mặc dù ngày 3 tháng 6 năm 2008 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 để thay thế, nhưng bài viết này vẫn trích dẫn Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN, được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 12 tháng 11 năm 1996, vì Nghị định số 38-2005-NĐ-CP được ban hành vào năm 2005, tức là trước khi Luật số 17/2008/QH12 và sau khi Luật số 52-L/CTN có hiệu lực. Những nội dung mà bài viết này đã trích dẫn từ Điều 5, Điều 7 và Điều 56 của Luật số 52-L/CTN vẫn còn nguyên giá trị, được trình bày lại tương ứng tại Điều 5, Điều 8 và Điều 14 của Luật số 17/2008/QH12.
Phụ lục 1
Điều sửa đổi, bổ sung 1
Quốc hội sẽ không ban hành đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hay hạn chế quyền tự do ngôn luận, hoặc quyền tự do báo chí, hoặc quyền của người dân về hội họp (assemble) ôn hòa  kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.
Như vậy, Hiến pháp Mỹ quy định Quốc hội Mỹ không được phép ban hành luật nhằm hạn chế quyền hội họp (trong đó có quyền biểu tình ), do đó người dân Mỹ hoàn toàn tự do thực hiện quyền ấy một cách ôn hòa.
Phụ lục 2
Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức ( Grundgesetz , có nghĩa là Luật cơ sở hay Luật cơ bản ) quy định:
Điều 8
(1)    Tất cả người Đức có quyền hội họp (versammeln) ôn hòa và không đem theo vũ khí mà không cần phải đăng ký hay xin phép .
(2)    Đối với các cuộc hội họp (Versammlungen) ngoài trời thì quyền này có thể bị hạn chế bởi luật hoặc trên cơ sở một luật .
Điều 14
(1)    Ai có ý định tổ chức một cuộc hội họp ngoài trời ở nơi công cộng hay một cuộc tuần hành thì phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền muộn nhất là 48 giờ trước khi ra thông báo, phải trình bày mục đích của cuộc hội họp hay tuần hành.
(2)    Trong bản đăng ký phải chỉ ra người nào chịu trách nhiệm điều khiển cuộc hội họp hay tuần hành .
Như vậy, trách nhiệm “đăng ký” thuộc về người “có ý định tổ chức” , và chỉ có thể tiến hành “đăng ký” khi tồn tại người “tổ chức” . Do đó, quy định “phải đăng ký” chỉ có thể nhằm vào các cuộc hội họp, tuần hành có người đứng ra tổ chức, không thể áp dụng cho các cuộc hội họp tự phát, không có người tổ chức .
Phán quyết Brokdorf của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức ngày 14 tháng 5 năm 2005 (1 BvR 233, 341/81) đã chỉ rõ: Nghĩa vụ đăng ký quy định trong Điều 14 của Luật hội họp không được áp dụng cho các cuộc biểu tình tự phát và không thể dùng lý do “không đăng ký” để giải tán hay cấm biểu tình tự phát . Bên cạnh biểu tình không có người tổ chức, khái niệm “biểu tình tự phát”(Spontandemonstrationen) còn bao gồm cả những cuộc biểu tình hình thành tức thời vì lý do thời sự (Spontandemonstrationen, die sich aus aktuellem Anlaß augenblicklich bilden). Trong trường hợp này, người tổ chức (nếu có) cũng không phải đăng ký, bởi nếu phải đợi để cơ quan có thẩm quyền xét duyệt thì mất hết ý nghĩa thời sự, hoặc triệt tiêu mất duyên cớ dẫn đến biểu tình.
Phụ lục 3
Điều thứ 10
Công dân Việt Nam có quyền:
–           Tự do ngôn luận
–           Tự do xuất bản
–           Tự do tổ chức và hội họp
–           Tự do tín ngưỡng
–           Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.
Phụ lục 4
Điều 25
Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp , lập hội và biểu tình . Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.
Phụ lục 5
Điều 67
Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp , tự do lập hội, tự do biểu tình , phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân.
Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó.
Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.
Phụ lục 6
Điều 112
Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1-     Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước;
2-     Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân;
3-     Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội;
4-     Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách Nhà nước;
5-     Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường;
6-     Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;
7-     Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;
8-     Thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; ký kết, tham gia, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
9-     Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;
10-   Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
11-   Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.
Lưu ý là trong Điều 112, Hiến pháp 1992 dùng chữ  quyền hạn  chứ không phải  quyền  . Nếu viết là  quyền  thì một điều luật cụ thể có thể chỉ đề cập đến một số quyền nào đó, còn khi viết là  quyền hạn  thì có nghĩa là tất cả các quyền chỉ có như vậy . Rõ ràng là: Hiến pháp 1992 hoàn toàn không cho phép Chính phủ ban hành nghị định hay những văn bản tương tự để hạn chế quyền công dân, mà ngược lại, Hiến pháp giao cho Chính phủ trách nhiệm “Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình” .
Phụ lục 7
Điều 74 của Hiến pháp 1992 quy định:
“Công dân có quyền khiếu nại , quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.”
Điều 78 của Luật khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10 (được Quốc hội khóa 10 thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998), quy định về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo, có viết:
 Cử đại diện để trình bày với người tiếp công dân trong trường hợp có nhiều người khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung .”
Điều 78 của Luật số 9/1998/QH10 không bị sửa đổi trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo số 26/2004/QH11 , thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004, và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo số 58/2005/QH11 , thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005.
Rõ ràng là Hiến pháp chấp nhận quyền khiếu nại (tự do, đầy đủ, không có hạn chế, không loại bỏ dạng khiếu nại nào) và Luật số 9/1998/QH10 chấp nhận đích danh  trường hợp có nhiều người khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung” và được “cử đại diện để trình bày” , nghĩa là chấp nhận những vụ khiếu nại chung của nhiều người, chứ không phải tách thành những đơn riêng lẻ. Thế mà Chính phủ lại khước từ quyền chính đáng ấy bằng ban hành Nghị định số 136/2006/NĐ-CP, trong đó quy định:
“… trong trường hợp đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người thì có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn riêng …”
Thanh tra Chính phủ cũng khẳng định thêm trong Thông tư số 04/2010/TT-TTCP bằng quy định:
 Đơn khiếu nại có họ, tên, chữ ký của nhiều người thì cán bộ xử lý đơn đề xuất Thủ trưởng cơ quan chuyển trả đơn…”
Như vậy, Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP đã vi phạm Hiến pháp và Luật số 9/1998/QH10.
Có lẽ chỉ ở Việt Nam mới có chuyện e ngại và tìm cách cản trở “khiếu kiện đông người” , chứ ở các nước khác thì việc nhiều người cùng ký vào một đơn kiện là chuyện hoàn toàn bình thường, hiển nhiên không có gì đáng bàn và không ai được phép khước từ những lá đơn khiếu nại như vậy.
Đơn của phía Việt Nam kiện các công ty Mỹ đã sản xuất chất độc màu da cam rải xuống chiến trường Việt Nam cũng do 3 người cùng ký tên . Nếu Chính phủ cho rằng “đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người” là sai, là không được, thì sao không ngăn chặn và“hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn riêng” , để giữ gìn thể diện Quốc gia?
25/09/2012
This entry was posted on 26/09/2012, in Báo chí.