Archive | 11/10/2012

Hoàng Cát: Vết chân tròn vẫn cắm sâu vào lòng cát

Đỗ Trường
Có thể nói, những năm đầu của thập niên tám mươi(của thế kỷ trước) cả nước đói. Nhà nhà làm thêm, người người chạy chợ. Cái đói đã đẩy con người đến gần hơn với hè phố và những con đường, góc chợ. Câu thành ngữ “ đầu đường xó chợ“ chỉ giành riêng cho kẻ nào đó, bây giờ nghĩa thực, đôi khi là cả nghĩa bóng của nó vận tất tần tật vào mọi tầng lớp, từ ông giáo sư đến bà quét rác. Tôi là người đầu tiên trong dòng họ bỏ việc, đi buôn bán máy khâu, máy vắt sổ. Mẹ tôi gào lên: Làm thầy  không muốn, mày lại thích người ta gọi là thằng hả, thằng kia! Dù mấy chục năm qua mẹ đã nuôi tôi chủ yếu từ những chén trà hè phố.

Nhà tôi ở đầu Ô Chợ Dừa, gần Nhạc Viện và trường Mỹ Thuật Công Nghiệp. Buổi sáng mấy ông nghệ sỹ rách việc hay vào hàng nước mẹ tôi, tào lao, hút thuốc lào vặt. Thấy họa sỹ Hệ chuyên về tranh sơn mài, hay ngắm những đường hoa văn máy khâu, khi tôi ngồi lau chùi sửa chữa ở góc nhà. Buột miệng, tôi hỏi, anh có thể vẽ nối được  những đoạn hoa văn bị đứt trên đầu máy khâu không? Anh bảo, vẽ không khó, nhưng nét vẽ mới, làm cũ đi giống như hoa văn (original) nguyên thủy, phải thử. Chở mấy cái đầu máy may đến nhà cho anh thử, tuần sau anh báo, đã làm được, rất đẹp. Cũng từ đó họa sỹ Hệ trở thành thợ vẽ không chỉ cho riêng tôi, mà cho cả ổ buôn lậu máy khâu, vắt sổ Hà Nội. Từ các bác ở thông tấn xã Việt Nam, xưởng Duy Nhất Bông Thợ Nhuộm, đến cả mấy ông bà nghệ sỹ ở nhà hát kịch…

Đến lấy máy, nhiều khi hoa văn chưa kịp khô, chúng tôi phải kéo nhau ra hàng nước gần nhà thợ vẽ Hệ ngồi chờ. Lúc đầu tôi cũng không để ý nhiều đến người đàn ông cụt chân, ngồi bán nước, giọng Nghệ pha Bắc vui nhộn, chuyện nổ như ngô rang. Bản Cò (dốc Thọ Lão) phóng viên thông tấn xã VN, rỉ tai tôi:  Hoàng Cát, nhà thơ dính vào vụ Cây Táo Ông Lành đấy. Lúc này nhìn Hoàng Cát thấy phơi phới đầy tương lai, những u uất thương đau hình như luẩn quất đâu đó, chứ tuyệt nhiên không thấy trên khuôn mặt ông. Câu chuyện Cây Táo Ông Lành và Hoàng Cát bị tẩm quất, tôi đã nghe nhiều, nhưng cụ thể sự việc, hỏi ai cũng lắc đầu ngơ ngác. Nhiều lần tôi định hỏi thẳng Hoàng Cát, nhưng nơi hàng quán thấy bất tiện, hơn nữa lại sợ chạm vào nỗi đau trong ông. Sau đó hàng(cáy) tầu biển Hải Phòng, Quảng Ninh về nhiều, chúng tôi mua bán cả mớ(bán mua sỉ) nên không còn đến thợ vẽ Hệ và ngồi hàng nước của ông nữa.
Gần đây công việc thảnh thơi hơn, tôi tìm đọc Hoàng Cát. Phải nói thẳng thơ Hoàng Cát ít có bài thật hay, hoặc bất chợt thăng hoa, vụt sáng lên như Nguyễn Trọng Tạo. Nhịp thơ đều đều dàn trải trong mạch thơ về tình yêu và tự sự về thân phận kiếp người, xuyên suốt cả quá trình sáng tác của ông. Và có lẽ không ai có thể phủ nhận nghị lực sống, tình yêu thơ ca mãnh liệt trong ông. Trong cái bi của cuộc đời giữa một xã hội điên đảo, đâu đâu cũng có những KẺ SIÊU HÌNH rình mò truy bức. Ấy vậy mà  Hoàng Cát vẫn vặn hết mình cho thi ca, quả thật ít có người làm được.  
“Cảm Ơn Cái Vỉa Hè“ như một lời tri ân vắt ra từ trái tim, không còn riêng của Hoàng Cát nữa, mà nó đã hóa thành hàng triệu lời cảm ơn của nhiều thế hệ và những mảnh đời lay lắt, bất hạnh:
“Ta cảm ơn cái vỉa hè bụi bặm
Đã nuôi ta những năm tháng cơ hàn
Ta cảm ơn những tháng ngày mưa nắng
Cho ta hiểu đời trong đục buồn thương…“
Thật vậy, cuộc đời bi đát của Hoàng cát là hình ảnh thu nhỏ của xã hội đương thời. Mỗi lần nghĩ và đọc thơ ông, bao nhiêu những kỷ niệm vui buồn của xã hội, gia đình, bản thân lại hiện về:
“Trong im lặng, ta hiểu mình rõ nhất
Đã trải hết khổ đau, đói khát
Nào nhục, nào vinh
Nào tang tóc chiến tranh
Nào sợ hãi KẺ SIÊU HÌNH truy bức
Giờ ta buồn vui như
lữ khách độc hành…“
Thật là có lý, ai đó cho rằng, nếu như không có vụ án lửng lơ Cây Táo Ông Lành, thì Hoàng Cát và thơ của ông, không được nhiều người biết đến như vậy. Thật ra trong một cái xã hội luật pháp chỉ là đồ trang sức, thì có rất nhiều, rất nhiều những oan án khác nghiêm trọng hơn vụ Cây Táo Ông Lành, cho đến nay vẫn còn chìm trong bóng tối.
Anh Chế, giảng viên trường đại học giao thông Hà Nội, con trai của cô Đặng Thị Uẩn, (họ hàng bên mẹ tôi) em ruột của tổng bí thư đảng Trường Chinh. Là giảng viên đại học lâu năm, nên mức lương của anh đủ tiêu chuẩn khám chữa bệnh ở hạng bét của bệnh viện Việt Xô. (Bệnh viện Việt Xô giành cho những ông lớn, nhưng cũng phân chia ra làm nhiều khu, cao thấp khác nhau, theo chức vụ. Cho đến nay, tôi đi và sống ở khá nhiều nước tư bản thối nát và đang giãy chết, nhưng không thấy đâu phân chia thứ bậc tiêu chuẩn từ thực phẩm, hàng hóa cho đến chăm sóc y tế như ở Viêt Nam. Trong khi chúng ta ra rả ngợi ca xã hội công bằng, bình đẳng văn minh). Nửa đêm, anh Chế bị đau bụng, đạp xe đến bệnh viện khám, xin thuốc. Không biết do mắt nhắm mắt mở khệnh khạng, coi thường bệnh nhân hạng bét, hay dốt nát, bác sỹ Tịnh chuẩn đoán sai, cho thuốc bậy, làm cho anh Chế chết ngay sau đó. Được tin, gia đình và bạn bè, đồng nghiệp của anh đều sửng sốt. Tôi thấy cô Uẩn và chị Phương vợ anh Chế chỉ biết nén những uất hận, khi nghe ai đó ở trên bảo không được làm to chuyện. Đồng nghĩa với việc miễn truy cứu hình sự, cánh cửa về hưu sớm, hưu non đã mở cho kẻ giết người (bác sỹ Tịnh). Nóng tính như chú đại tá Đặng Xuân Phi em ruột cô Uẩn, im lặng. Anh Đặng Hồi Xuân là người nhà, cũng là giám đốc Việt Xô vừa được đẩy lên làm bộ trưởng y tế cũng lặng im. Một sự câm lặng đến tàn nhẫn. Chịu không nổi, tôi đi tìm bác sỹ Tịnh định tẩn cho một trận, nhưng anh Bộ con út của cô Uẩn, và ông anh họ tôi Đặng Đình Phúc trưởng khoa tai mũi họng bệnh viện Việt Xô ôm chặt can ngăn. Cái chết oan ức của anh Chế đến nay đã gần ba mươi năm, vẫn chưa được minh bạch. Không biết linh hồn anh đã được siêu thoát, hay còn vất vưởng đâu đó. Việc này nhiều người biết hoặc đã chứng kiến còn sống, và có lẽ trong đó có cả chị Đặng Việt Nga(con gái cố TBT Trường Chinh) kiến trúc sư ở Đà Lạt không thể quên.
Kể lại câu chuyện trên, để nói lại một điều, nhà thơ Hoàng Cát còn tốt số hơn rất nhiều người vì ông còn được sống và được giải oan. Và đây có lẽ cũng là lời lý giải duy nhất, khi nhiều người cho rằng nhà thơ Xuân Diệu đã làm ngơ, không cứu người em Hoàng Cát. Trong một cái xã hội luôn rình mò, bới móc, ăn một miếng thịt cũng phải giấu xương này, chỉ cần một kẻ siêu hình ngồi trên ho. Một Xuân Diệu, chứ có cả trăm Xuân Diệu cũng không thể cứu được Hoàng Cát.
Thân Con Kiến là một trong những bài thơ hay nói về thân phận bọt bèo của một kiếp người. Từ ngữ đơn giản, với những câu nói cửa miệng, mộc mạc hàng ngày, không cần gọt dũa Hoàng Cát đã đưa vào thi ca. Nhưng đọc lên ta thấy rất thơ, rất sinh động:
“Thân con kiến giữa mênh mông xa mạc
Nắng. Rồi mưa. Rồi bão. Lũ. Cuồng phong
Còn sống đến hôm nay- Là ta “lãi” vô cùng
Ta không chết đấy mới là chuyện lạ..”
Có ý kiến cho rằng, thơ Hoàng Cát là những lời tự sự, tự ru mình, ru người. Không hẳn như vậy, ta hãy đọc tiếp bài Thân Con Kiến, để thấy cái khao khát tự do, mà Hoàng Cát suốt đời lang thang tìm kiếm, làm cho KẺ SIÊU HÌNH cũng phải run sợ:
“…Ta là thân con kiến giữa mênh mông
Ai giẫm đạp, ai chầy chà cũng được
Nhưng ta biết có một loài thú gộc
Luôn chờn ta- Ấy là lũ voi rừng
Hễ nghi ngờ chúng đập ta nát bươm
Ta là con kiến lang thang…”
Còn mạnh hơn cả những khát khao và cả một đời tìm kiếm, trong bài thơ Tặng Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Cát đã dùng ngòi bút đâm thủng màn đêm đen ấy. Ông đã mượn sự tài hoa của thi sỹ Nguyễn Trọng Tạo để bóc trần sự dốt nát, nhưng đầy thủ đoạn, giả dối, lưu manh của những kẻ ăn trên ngồi trốc:
“Tài hoa chi lắm Tạo ơi
Loài tò he chẳng cần người tài hoa
Chúng cần gọi dạ xin thưa
Chúng cần nô bộc làm lừa kéo xe
Qua rồi trăm núi ngàn khe
Chúng phăng teo suốt cả bè tài danh
Nghế trên vắt vẻo “rỗ rành”
Tài hoa liệu liệu-tan tành mi ơi”
Tuy chưa được đọc tuyển tập, hay những tập thơ đã ra lò của Hoàng Cát, nhưng đọc tất cả các bài thơ trên hoangcat.vnweblogs.com, tôi cảm phục tính nhẫn nại, dù ông đang bị hành hạ khổ đau về cả thể xác lẫn tâm hồn./ Mười bảy nghề tủi nhục nắng mưa/ Hăm ba tết đập tan tành quán cóc/ Kẹo hất tung tôi ôm mặt khóc òa. Nhưng ông vẫn yêu thơ, làm thơ. Thơ là chiếc lạng gỗ giúp ông lội qua những vũng lầy của cuộc sống. Ông phó cối, hàng xóm nhà tôi, người cũng đã trải qua chiến tranh đọc Hoàng Cát, rồi bảo: Nếu như bắt Hoàng Cát đoạn tuyệt với thi ca để được sống, thì dứt khoát ông này sẽ chọn cái chết để được làm thơ.
Qủa thật, mỗi lần nghĩ, đọc Hoàng Cát, tôi lại nhớ đến lời khuyên của giáo sư Vũ Tuyên Hoàng. Và cảm thấy mình vô cùng yếu kém, có những ước mơ nhưng không đủ dũng khí đi đến tận cùng.Vào khoảng năm 1987, 1988 tôi có đọc bài thơ“Chiếc Ghế Của Cha“ của giáo sư viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng, viết về cái đau và sự trống vắng mỗi khi nhìn vào chiếc ghế của cha anh, nhà văn Vũ Ngọc Phan vừa qua đời. Bài thơ này, làm tâm hồn kẻ mổ heo chuyên nghiệp, sống nơi xứ người như tôi xúc động mạnh, bật ra một bài dạng thơ con cóc với cái tựa đề: Xuân Này Cha Viết Gì?
“ Đêm nay cũng như bao đêm
Cha tôi lại ngồi viết
Hà Nội còn đông trời lạnh ngắt
Cha ngồi đó trầm tư bên bản thảo
Cha viết gì với cuộc sống hôm nay
Viết thực ư? Ngòi bút lạc dòng
Viết khác chăng? Lương tâm người cầm bút…
Ngoài cửa sổ giàn hoa thiên lý
Cha thường bế con lên để hái
Mùi hương thơm con cảm thấy ngọt ngào
Không phải con lớn, giàn hoa kia thấp xuống
Mà con người thay đổi theo qui luật của tự nhiên…
Cứ mỗi lần cha nhìn con
Cha cảm thấy mình là người có lỗi.
Con hiểu, điều đó không phải tại cha
Mà do người cầm lái
Đưa con tầu xuống vực thẳm thương đau.
Con biết cha trăn trở đã bao ngày
Với ngòi bút dường như không lối thoát
Nhưng con mong cha viết lên những sự thật
Dù sách của cha không được in như những ngày nào
Nhưng bản thảo của cha vẫn sống
Con yêu cha hơn hết thảy bao giờ”
Chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào, tôi dám đề tặng, gửi bài này cho nhà thơ Vũ Tuyên Hoàng, hình như lúc đó anh đang ở  (viện) trường đại học nông nghiệp. Mấy tháng sau tôi nhận được thư hồi âm của anh. Anh khen bài thơ con cóc của tôi có hình ảnh, nhưng không thể đăng báo trong nước. Anh khuyến khích tôi viết tiếp. Nhưng lúc đó áp lực công việc và lo kiếm tiền giúp đỡ gia đình ở Việt Nam, rồi những biến động chính trị ở Đức, nên tôi không còn hứng thú với thơ phú. Nói vui, nếu như có một chút nghị lực, một tí ti kiên trì, tình yêu thơ ca mãnh liệt của nghệ sỹ Hoàng Cát, có lẽ đến nay tôi cũng đẻ được một vài tập thơ chứ chẳng chơi.
Chiến tranh đã cướp đi một phần cơ thể, cho nên hơn ai hết Hoàng Cát thấm được nỗi đau của sự mất mát, cái tàn nhẫn của chiến tranh. Bài thơ Đừng Bao Giờ, như một tiếng kêu thống khổ xé trong đêm của người thương binh tàn phế từ mặt trận trở về. Cả bài thơ là một sự nguyện cầu, không hề thấy một lời trách móc. Nhưng đọc lên ta thấy nghèn nghẹn đắng cay. Đằng sau sự đắng cay khổ ải về thân xác ấy, là cái phũ phàng không tình người sau chiến tranh, còn cay nghiệt, buồn tủi gấp ngàn lần:
“Tiếng lọ kẹo va vào nhau lanh canh
Tiếng xe hàng nghiến xuống đường lộc cộc
Tiếng chân gỗ của tôi kót két bước cao, bước thấp
Tôi đẩy xe hàng đêm đêm đi kiếm ăn.
Đừng bao giờ trở lại nữa-chiến tranh
Đừng ai phải tật nguyền như tôi vất vưởng
Dằng dặc một ngày chạy lo cái sống
Dằng dặc một ngày tàn phế khổ đau
Bao nhiêu sợi tóc trên đầu
Bấy nhiêu buồn lo đọng lại
Bấy nhiêu nhọc nhằn
Bấy nhiêu buồn tủi
Đừng bao giờ trở lại nữa chiến tranh”
Có thể nói Hoàng Cát là một trong những nhà thơ viết về thân phận con người hay nhất hiện nay. Những năm tháng cùng khổ về vật chất, tù túng về tinh thần, tạo cho Hoàng Cát có một tâm hồn nhạy cảm. Ông đau với cái đau đồng loại, cảm thương trước những mảnh đời bất hạnh. Sự đồng cảm ấy trong ông làm ấm lại tình người, qua những câu thơ lời hát. Theo Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Cát là người cả nghĩ. Vâng! Đúng như vậy, sự cả nghĩ, đa cảm đó là những chất liệu làm nên tính cách và hồn thơ Hoàng Cát.
Sông Hồng Chiều Đông, theo tôi là bài thơ hay nhất của Hoàng Cát viết về thân phận con người về cả hai khía cạnh, nội dung và nghệ thuật. Thoạt tưởng bài thơ là một bức tranh toàn bích của mùa đông về trên sông. Nhưng mặt sau bức tranh này, người xem(đọc) sẽ cảm nhận được cái đói lạnh và sự lam lũ, cô độc trong cái mênh mông sông nước của những kiếp người. Bài thơ chia làm ba khổ, mỗi khổ bốn câu độc lập, mang mang hoài cổ làm ta nghĩ đến những câu thơ đường.
“Dòng lạnh trôi, run rẩy chở gió mùa
Hoa cỏ dại bãi bờ hoang lẩy bẩy
Mây xám chiều đông. Cánh đồng trống trải
Ngô hái bắp rồi. Phơ phơ hoa khô.
Chiếc thuyền gỗ mong manh buông lưới gần bờ
Ngư phủ là một người đàn bà không tuổi
Có tiếng trẻ trong khoang che bằng lá chuối
Khiến sông nước mênh mang, lạnh đến tận chân trời…”
Đọc đến câu thơ“Cái gia đình lênh đênh kia chừng như không để ý” tôi cứ thấy măng mắc, gờn gợn. Đây có lẽ là một câu thơ dở, và gượng ép trong một bài thơ hay. Tôi cho rằng nếu không có vết mực này, bức tranh Sông Hồng Chiều Đông của Hoàng Cát hoàn bích hơn rất nhiều.
“…Ánh hoàng hôn đã sậm sậm xa rồi
Cái gia đình lênh đênh kia chừng như không để ý
Sương dần buông. Gió chiều đông tê tái.
Chiếc thuyền chài lầm lũi khuất trên sông”
Bước vào tuổi bảy mươi, cái tuổi con người thường dừng lại để mà nghĩ suy, để mà chiêm nghiệm. Nhưng Hoàng Cát vẫn hừng hực yêu, hừng hực viết. Vết chân tròn của ông vẫn ghim sâu vào lòng cát. Từ trong lòng cát nóng bỏng ấy, đã nẩy lên những nhánh hoa xương rồng, cháy vào hồn người.
“Ta là hạt cát của Miền Trung
Như hoa trên nhánh xương rồng ấy
Vẫn nở vì nhau đến cháy lòng”  
Leipzig ngày 11-10-2012
Tác giả gửi cho NTT blog
Advertisements
This entry was posted on 11/10/2012, in Báo chí.

Hoàng Cát: Vết chân tròn vẫn cắm sâu vào lòng cát

Hoàng Cát: Vết chân tròn vẫn cắm sâu vào lòng cát

Đỗ Trường

 .

Có thể nói, những năm đầu của thập niên tám mươi(của thế kỷ trước) cả nước đói. Nhà nhà làm thêm, người người chạy chợ. Cái đói đã đẩy con người đến gần hơn với hè phố và những con đường, góc chợ. Câu thành ngữ “ đầu đường xó chợ“ chỉ giành riêng cho kẻ nào đó, bây giờ nghĩa thực, đôi khi là cả nghĩa bóng của nó vận tất tần tật vào mọi tầng lớp, từ ông giáo sư đến bà quét rác. Tôi là người đầu tiên trong dòng họ bỏ việc, đi buôn bán máy khâu, máy vắt sổ. Mẹ tôi gào lên: Làm thầy  không muốn, mày lại thích người ta gọi là thằng hả, thằng kia! Dù mấy chục năm qua mẹ đã nuôi tôi chủ yếu từ những chén trà hè phố. Tiếp tục đọc

Con Gấu

Truyện ngắn của Nguyễn Quang Huy
Giải ba cuộc thi truyện ngắn 1992 -1994 Tạp chí Văn nghệ quân đội
Nàng là một cô gái ngoại thành, con nhà trồng hoa. Từ ngày lên thành phố ở, nàng không trồng hoa nữa, nhưng vẫn rất yêu hoa. Hình như mỗi một loài hoa, đều mang một phần cái hồn trinh nữ của nàng, mong manh, e ấp, mộc mạc, thấm đẫm hương đồng nội. Nàng hay đi chợ và mua hoa lúc chín, mười giờ sáng, lúc ấy mới có hoa tươi vừa cắt ở vườn, chứ còn đi sớm quá, có khi lại là hoa từ chiều qua. Nàng chẳng lầm giữa hoa tươi và hoa cũ, nhưng nàng không muốn nhìn thấy vẻ rầu rĩ của những bông hoa hái qua đêm. Còn những bông hoa mới cắt xong, ngay hít thở cái mùi hương dịu lành của nó, cũng thấy thơm mát vào tận da, và nước từ cuống hoa rịn ra nơi vết dao cắt, cũng thoáng làm nàng chạnh nhớ một thời trinh bạch đã qua…

Nàng đang vừa mải chọn hoa, vừa nghĩ, thì cảm thấy có một cái gì mềm mại cọ cọ dưới chân mình. Nàng nhìn xuống, và mừng rỡ thốt lên:
– Gấu! Sao mày lại ở đây hả?
Con chó – Gấu là tên nó – ngước cái mõm đen mượt hít hít tay nàng, và nàng cảm thấy cái lưỡi mềm ấm của nó rụt rè, chứ không vồn vã như mọi khi.
– Sao lâu lắm rồi, mày không đến chỗ chị? Thôi nào, đợi chị chọn mấy bông hoa nữa, rồi thì về…
Nàng vỗ nhẹ mấy cái lên đầu nó, rồi chọn tiếp. Con Gấu quanh quẩn đi theo.
Nó là một con chó Mẹo to, đậm. ức nở, cổ lực lưỡng, vai tròn, xuôi xuống phía lưng. Mõm ngắn, hàm khỏe, với hàm răng sắc, nhọn và đều. Mắt nó mầu đen, giống như mầu cánh của con bọ sừng, có cái nhìn lung linh mầu hổ phách. Đuôi nó cụt ngủn, toàn thân phù hợp với lớp lông đen dày, vừa cứng vừa mềm mại. Trông nó hệt như một con gấu và có bản lĩnh của một con gấu: những cử động từ tốn và điềm tĩnh, chắc chắn và uyển chuyển.
Nàng đã chọn xong hoa, bảo:
– Về đi, Gấu ơi!
Con chó đi cách nàng vài bước, lững thững chứ không có vẻ tung tẩy, ra chiều đang nghĩ một điều gì đó.
Đến một tòa nhà to, ở tách biệt, nàng mở cổng, rồi mở cửa bước vào. Con chó đứng ngoài cửa, không vào theo. Nàng lắc đầu, bảo:
– Vào đi, Gấu! Không có ai đâu! Đây này…
Và nàng mở toang cửa chính, cửa sổ, rồi ngồi xuống một chiếc ghế bọc đệm nhung mầu mận chín. Con Gấu chậm rãi đi đến cạnh nàng, ngồi xuống, áp cái mõm của nó lên đùi nàng, mắt lim dim.
Nàng đưa bàn tay mềm mại, thơm tho kê dưới mõm nó.
– Chủ mày có khỏe không? Sao lâu nay không thấy mày đến chơi với chị? Chị buồn lắm, Gấu ơi!
Hình như cái giọng nghèn nghẹn của nàng làm con Gấu chợt run rẩy. Nó thè lưỡi liếm lòng tay nàng, ngọ nguậy cái mõm.
– Mày thương chị, phải không, Gấu? Sao dạo này mày gầy vậy? Chắc chủ mày vất vả lắm phải không?
Con Gấu vẫn nhắm mắt, chỉ có cái tai hơi động đậy, và thỉnh thoảng nó lại thoáng rùng mình nhè nhẹ.
– Thôi, để chị đi lấy cái gì cho Gấu ăn nhé! Ngồi đây!
Nàng đứng dậy, xuống bếp, mang lên một cái bát to cơm, canh và mấy miếng thịt quay – cái món mà Gấu thích. Nhưng, Gấu không ăn ngay. Nó cứ ngồi như thế, ngước mắt nhìn nàng.
– Gấu cũng nhớ chị à? Hay muốn nói điều gì với chị? Thôi nào ăn đi đã…
Con Gấu nhởn nha ăn. Hai chỗ hõm ở hông nó phập phùng. Nàng thích cách ăn của con Gấu, biết rằng nó ít khi được ăn ngon. Bàn tay mềm mại của nàng đang vuốt dọc lưng con vật, bỗng dừng lại. Một nỗi buồn cứ từ từ dâng lên, đầy ắp trong nàng, rồi những giọt nước mắt cứ lần lượt ứa ra, nhỏ xuống bát cơm của con Gấu… Con Gấu làm nàng nghĩ đến chủ của nó, và thân phận của mình. Cứ thế, nàng lặng lẽ khóc…
*
Chủ của con Gấu, một anh giáo trường làng, mồ côi bố, ở với mẹ bệnh tật. Và nàng, một cô con gái nhà trồng hoa ngoại thành, xinh đẹp nết na, thi không đỗ đại học. Đã có một thời, họ sống thật hạnh phúc với nhau dưới mái nhà vá víu bằng đủ mọi thứ vật liệu. Chàng dạy học trường làng, nàng trồng hoa. Một mảnh đất nhỏ thôi, nhưng cũng đủ cho một gia đình sống đơn giản và ấm cúng. Sáng sáng, nàng dậy sớm, cắt hoa mang đi chợ bán. Con Gấu đưa chân nàng đến tận đầu làng, mãi khi nàng bảo:
– Thôi Gấu, đi về trông nhà đi!
Con Gấu dừng lại, đứng nhìn theo mãi cái dáng đi mềm mại của cô chủ, đến khi nó chỉ còn là cái bóng mờ mờ, rồi phi một mạch về nhà. Cũng đôi lần, nó lặng lẽ theo nàng đến tận chợ. Nàng mua cho nó mấy miếng dồi lợn, gói bằng một nửa tàu sen. Nó nằm, thong thả nhai từng miếng vẻ khoái trá, thỉnh thoảng đưa mắt nhìn cô chủ nó đang bán hoa cho khách…
Cuộc sống của nàng, có lẽ cứ lặng lẽ trôi đi, nếu bàn tay của tạo hóa không bày ra những trò cay nghiệt để thử lòng dạ con người. Đầu tiên, là lấy nhau hai năm rồi, nàng vẫn chưa có một mụn con. Theo lời thầy thuốc ở bệnh viện, thì lỗi ấy do chồng nàng. Họ nội của chàng, ba bốn đời chỉ có một con trai. Thôi thì, có một con trai hay một con gái cũng được! Nàng an ủi chồng vậy. Chút tiền bán hoa ít ỏi, đắp cả vào việc nuôi mẹ chồng và chạy chữa cho chồng, nàng cũng chẳng hề kêu ca. Nhưng, hình như trời không thương nàng, cố tình phụ công nàng. Đã có lúc, chồng nàng bảo:
– Ở với tôi, mình khổ đã đành, lại uổng một đời con gái. Hay là…
Nàng hốt hoảng:
– Hay là… sao… ?
– Hay là… mình kiếm lấy một đứa con để nuôi. Là con của mình… Người ta nói con gái có thì…
– Anh bạc lắm! Nàng khóc.
Nhưng cái thực tế phũ phàng, cay nghiệt kia, nàng đã lờ mờ cảm thấy, song từ lâu, nàng cố coi như không có nó. Nay cả chồng và mẹ chồng đều nhắc đến, thì nó lại hiện diện, rõ rệt, tàn nhẫn, lý trí yếu ớt của nàng làm sao chống lại nổi. Và, nàng mặc cho nó dày vò mình. Nàng sống như một người chết đuối vớ phải một mảng bèo, liền bám lấy nó và để mặc cho dòng nước dữ cuốn đến đâu thì cuốn. Thôi thì, trăm sự nhờ vào may rủi…
Cho đến một hôm, nàng đi chợ bán hoa như mọi sáng…
– Hoa tươi quá… Chỉ tiếc người hơi héo! Có bán cả không em?
Nàng chợt ngẩng lên, toan mắng người ấy, thì nhận ra người làng.
– Tưởng ai, ra anh!
Rồi nàng nhoẻn cười. Một bên má lúm đồng tiền.
– Sao lâu rồi, không thấy anh về làng?
– Còn ai nữa mà về! Còn em, thì em… Dạo này, sao em khác quá!
– Vừa già, vừa xấu… ?
– Cũng có gầy đi, trông vất vả hơn. Còn xấu thì… Em vẫn đẹp như trước, có khi còn duyên hơn…
Thoáng chút hồng trên má nàng. Nàng hơi cúi mặt xuống, cắn cắn môi dưới.
– Nhà anh gần đây, em đến chơi! Tiện thể, chọn cho anh một ít hoa và cắm bình hộ anh!
– Em còn phải bán nốt, kẻo héo mất.
– Nhanh thôi mà. Em đến cho biết nhà… Đưa anh gánh cho.
Nàng không có lý do để lưỡng lự, gánh hoa đi theo người đàn ông ấy. Mà, nàng đã đến cái nhà mà bây giờ nàng đang ở. Còn người đàn ông ấy, chính là chồng nàng bây giờ.
Cho đến bây giờ, nàng cũng không hiểu ma đưa lối, quỷ đưa đường như thế nào, mà nàng lại rơi vào cái nhà này, lại chấp nhận làm vợ anh ta. Anh ta không gài bẫy nàng. Anh ta chỉ nói thẳng với nàng những đề nghị của mình, với sự tính toán trần trụi, chính xác và chí lý. Em còn trẻ, lại đẹp, lại nết na. Em lấy anh giáo làng, nghèo kiết xác, lại mẹ già, đau ốm luôn, không hy vọng gì ở đường con cái. Bây giờ, thì em còn có thể chịu đựng được. Nhưng dăm ba năm nữa, ở hoàn cảnh ấy, em sẽ già rất mau. Em sẽ xấu xí, sẽ nhăn nheo như một bà cụ già, người sẽ héo quắt đi. Như vậy, có ích gì cho em, và cũng chẳng ích gì cho mẹ con người ta. Rồi cuộc sống túng quẫn liệu có giữ mãi được cái tươi vui của gia đình hay không? Còn em ở với anh, nhà này là của em, của các con em. Tiền anh kiếm được cũng là của em, em toàn quyền quản lý, chi tiêu. Em sẽ chẳng phải làm gì cả, chỉ đi chợ cơm nước, quán xuyến nhà cửa giúp anh…
Không phải anh ta nói một lúc tất cả những điều ấy trong lần đầu tiên nàng đến nhà anh ta, mà là nói dần dà trong những lần sau, mỗi khi nàng đi chợ bán hoa và anh lại mời nàng đến nhà. Anh ta cứ nhẩn nha, ung dung, tự tin mà đi đến cái đích của mình. Giống như đêm tân hôn, người đàn ông cứ từ từ lột từng thứ quần áo trên người đàn bà. Dù người đàn bà có yêu người đàn ông ấy hay không, nhưng mặc nhiên cam chịu, hoặc thích thú. Sự e lệ, trinh bạch lúc ấy chỉ còn là một trò giả vờ cố ý… Nàng cũng vậy. Những lời nói của anh ta, lần lượt tước bỏ dần những dằn vặt, cái băn khoăn của nàng lần lượt dồn nàng vào cái thế phải chấp nhận. Nó không hẳn là tự nguyện, nhưng nàng lại không thể làm khác. Nó đúng, nhưng tàn nhẫn, khốc liệt và man rợ. Ngay cả khi anh ta ôm nàng, ghì riết thân hình nàng bởi một vòng tay mạnh mẽ, phả vào mặt nàng cái hơi thở hầm hập, gây gây của một giống đực, thì nàng cũng không còn một chút ý chí nào để chống cự. Cả người nàng mềm lả. Nàng nhắm mắt, chấp nhận cuộc hành quyết, để mặc cho cái cảm giác đau đớn, tủi hổ tràn vào, lấp đầy con người nàng với cường độ của những cơn xoáy lũ. Nàng hoàn toàn đầu hàng số phận. Nàng chấp nhận cái chết của kiếp sống này, để đổi lấy một kiếp sống khác, mà cũng chẳng cần biết nó sẽ như thế nào, mà giống như một sự giải thoát nhục nhã.
Nàng đổi kiếp sống mà không gặp phải sự ngăn trở gì nhiều nơi gia đình chồng cũ. Người làng có trách móc, thì nàng có bao giờ về đâu mà nghe. Đến mẹ anh giáo mất, nàng cũng không dám về, dẫu nàng biết là nghĩa tử là nghĩa tận, và biết nếu vậy thì nàng là một con đàn bà khốn nạn. Nàng không đủ can đảm. Nàng chỉ khóc rấm rích và tự xỉ vả mình suốt những đêm sau đó. Sợi dây duy nhất nối nàng với quá khứ là con Gấu. Những ngày mới lìa bỏ ngôi nhà dột nát của anh giáo, nàng sợ gặp người làng, nhưng vẫn không thể không đi chợ mua hoa. Những đóa hoa tươi làm lòng nàng dịu lại. Nhưng một nỗi đau không tên cứ âm ỉ thiêu đốt nàng, mỗi khi nàng bước chân đến cái chợ quen thuộc. Rồi sự gặp gỡ với con Gấu. Nó ngạc nhiên lắm, khi nàng là người mua hoa chứ không phải là cô chủ bán hoa của nó. Chắc nó tìm nàng mấy hôm rồi, hôm nay mới gặp. Nàng bảo nó về nhà. ấy là lần đầu, nó bước vào cái ngôi nhà đồ sộ kia. Chắc nó ngạc nhiên tại sao cô chủ nó lại ở cái nhà này. Nó cứ ngồi im mà quan sát tất cả mọi đồ vật trong ngôi nhà với vẻ cảnh giác, sẵn sàng bỏ chạy hoặc tự vệ. Chỉ có thái độ của cô chủ cũ làm nó hơi yên tâm. Khi cô cho nó ăn xong, đang nói chuyện với nó, thì người chồng mới của cô chủ bước vào. Anh ta giật mình, lùi lại một bước:
– Con chó nhà ai đấy? Sao lại đưa nó vào nhà! Cẩn thận đấy!
Nàng vỗ vỗ con Gấu:
– Chó nhà em đấy mà! à… Nhà trước. Không sao đâu, nó hiền lắm…
Con Gấu yên lặng quan sát anh ta, không tỏ thái độ gì. Nhưng khi anh ta vừa bước một bước đến phía nàng, nó liền nhếch mép, để lộ một khóe hàm răng trắng ởn. Nàng phải đưa tay ôm lấy đầu nó:
– Gấu, ngoan nào…
– Tốt nhất là tống ngay nó đi… !
Nàng nhíu mày, nhưng cũng đứng dậy, kéo con Gấu đi theo. Nàng mở cổng, ngồi xuống, nâng đầu con Gấu lên, nhìn sâu vào mắt nó:
– Thôi, Gấu về đi, về đi! Từ nay đừng tìm chị nữa! Nhớ chưa?
Cái động tác lắc lắc đầu của nàng và ánh mắt nàng chắc con Gấu hiểu. Nó đưa lưỡi liếm liếm, hít hít bàn tay nàng, rồi phóng thật nhanh ra cổng…
Sau cái lần ấy, nàng không mua hoa ở cái chợ ấy nữa, mà đi chợ khác, xa hơn. Và con Gấu cũng không đến nhà tìm nàng. Không hiểu sao, hôm nay, nàng lại trở lại cái chợ cũ, và gặp con Gấu ở đấy…
Con Gấu cọ cọ cái mõm đen mượt của nó vào lòng tay nàng, làm nàng sực tỉnh. Nàng biết, giờ này chồng nàng sắp về. Nàng không muốn để anh ta gặp con Gấu, và chắc con Gấu cũng không muốn gặp anh ta. Nàng lý giải vẻ bồn chồn của con Gấu như vậy. Nó cứ định đứng lên, rồi lại thôi, hết nhìn ra cổng, lại nhìn nàng, và trong đôi mắt nó, cái ngọn lửa mầu hổ phách cứ lung linh, lung linh.
Nàng đứng dậy, lấy một chiếc dép của chồng, đưa vào mũi Gấu, và bảo:
– Nào, về thôi, Gấu! Kẻo họ sắp về rồi đấy!
Con Gấu, sau khi hít hít cái dép, như hiểu, đứng dậy theo nàng ra ngõ. Nó lủi thủi đi sau, cái đầu cúi thấp.
– Đừng giận chị nhé, đừng trách chị, Gấu nhé!
Và nàng mở cổng. Con Gấu nhìn nàng, tru lên một tiếng, rồi phóng đi.
Nàng đóng cổng, ngồi thừ một lúc trên chiếc ghế bọc nhung, rồi uể oải đứng dậy nấu cơm trưa, vừa làm, nàng vừa nghĩ miên man. Và, cái cảm nhận cuối cùng, là nàng vừa tự trách mình, vừa tự thương thân. Ở với người chồng mới, nàng là một người làm công, một con ở, một kẻ tù giam lỏng hơn là một người vợ. Công việc của nàng: Là quét dọn, giặt giũ, đi chợ, cơm nước, coi nhà và những công việc khác để hầu hạ chồng – Ông chủ. Ngay tiền đi chợ, anh ta cũng khoán cho nàng từng ngày, nếu cần thì phải xin, trừ cái dây chuyền hai chỉ và một cái nhẫn một chỉ anh ta mua tặng nàng hôm cưới. Nàng hiểu, ngay cả những thứ đó, cũng không phải của mình, bởi anh ta để mắt đến chúng luôn. Những người giàu có thường ích kỷ và keo kiệt, hay chính vì ích kỷ và keo kiệt mà họ giàu có? Nàng không muốn nghĩ nhiều đến điều này, bởi dẫu sao thì cuộc đời nàng cũng đã như thế rồi…
*
Sáng sớm hôm sau, con Gấu lại đến nhà tìm nàng.
Mõm nó tha một chiếc dép đứt quai. Thấy cổng còn đóng, nó lấy hai chân trước giật giật vòng xích khóa. Không có nàng ra mở cửa, nó bỏ chiếc dép xuống, chõ vào trong nhà sủa. Nghe tiếng con Gấu, nàng vội vã chạy ra, không giấu nổi vẻ mừng rỡ:
– Gấu đấy à? Đợi chị mở cổng cho mày ngay đây!
Con Gấu tha chiếc dép chạy vào trước. Đến thềm nhà, nó bỏ chiếc dép xuống, rồi đợi nàng và tru lên mấy tiếng thảm thiết. Nàng nhận ra chiếc dép nhựa cũ của anh giáo, và chợt hiểu:
– Thì ra vậy đấy! Chủ mày ốm phải không, Gấu?
Nàng vừa nhặt chiếc dép lên, dứ dứ vào mũi con Gấu, vừa nói vậy. Con Gấu lặng lẽ nhìn nàng, như cầu khẩn, rồi đứng dậy, cắn gấu quần nàng, lôi ra phía cổng.
Nàng ngồi xuống đưa hai tay giữ nó lại:
– Không được đâu, Gấu ạ! Chị không đi được!…
Nàng lắc đầu, và kéo con Gấu vào phòng:
– Thôi, phải ngồi đây! Để chị đi lấy cái gì cho mà ăn, rồi về…
Con Gấu không động đến bát cơm. Nó cứ quanh quẩn bên nàng, tru từng tiếng ngắn trong cổ họng. Nàng bối rối và bất lực. Chợt nàng “à” một tiếng, và đi xuống bếp. Lần này, con Gấu đi theo nàng. Nàng mở chạn, lấy một cái bánh giò mà nàng mua ăn sáng, một miếng chả to, hai quả cam và nửa cân đường. Nàng gói các thứ vào một túi nilon rồi bỏ vào một cái túi vải có quai. Xong xuôi, nàng bảo:
– Thế là được rồi! Nào Gấu, chịu khó một tí nhé! Không nặng lắm đâu!
Nàng quàng cái túi vải vào cổ con Gấu, dẫn nó ra cổng:
– Bây giờ, thì Gấu về ngay đi! Đi đi! Mai lại đến nhé…
Gấu co cẳng một mạch, quên cả từ biệt nàng. Nàng biết là anh giáo đang ốm nặng. Nàng cứ bần thần, bởi một ý nghĩ: anh giáo sẽ biết những thứ con Gấu mang về là của nàng, anh sẽ không thèm động đến. Tự nhiên, nước mắt nàng ứa ra, những giọt nước mắt tủi hổ của một người vợ trót bội bạc. Nhưng không, chắc anh ấy sẽ ăn. Anh ấy đang ốm mà. Nếu anh ấy không ăn, thì con Gấu cũng sẽ không ăn. Nó không bao giờ ăn trước chủ. Mà anh ấy thì quý con Gấu, thương con Gấu lắm. Bây giờ anh ấy chỉ có một mình nó…
Sáng hôm sau con Gấu lại đến, tha theo cái túi vải. Nhìn thấy cái túi, nàng mở ra nhẹ nhõm. Anh ấy hiểu mình và anh ấy vẫn còn thương mình. Một nỗi đau cứ thế nhói lên, làm nàng không chịu nổi. Nàng ghì đầu con Gấu vào ngực mình:
– Chủ mày không giận chị à? Chủ mày vẫn còn thương chị à?
Rồi nàng lại vội vã bỏ các thứ vào túi vải, quàng lên cổ con Gấu, những thứ mà sớm nay, nàng đã kịp đi chợ mua.
*
Cứ như vậy, con Gấu đến nhà nàng, ba, bốn lần sau đó, đều trót lọt, chồng nàng không hay biết.
Rồi một tối, khi ăn cơm, anh ta hỏi:
– Cái con chó nhà cô nó vẫn đến đây phải không?
Nàng đang gắp thức ăn, dừng đũa, không dám ngẩng lên ngay:
– Đâu có, chắc anh nhìn nhầm con chó nhà ai đấy!
– Ờ… cũng có thể! Nhưng cô vẫn cứ cẩn thận. Nó thả rông thế, dễ mắc bệnh dại lắm! Nó mà cắn tôi, thì cô cứ liệu!
– Nhưng mà em khóa cổng kia mà…
– Cô mới học đâu cái kiểu cãi giả chồng thế hả! Tôi nói thế thì phải biết im đi mà nghe!
Nàng nín lặng, cố nuốt nốt miếng cơm. Chiều hôm sau, anh ta về sớm, quăng gói giấy báo cái “bịch”:
– Cô không thích ăn thịt quay, nên mua miếng thịt cũng chẳng ra hồn. Từ nay, cô cứ để tôi khi nào thích ăn thì mua…
Nàng lẳng lặng mang gói thịt xuống bếp thái. Miếng thịt to, nàng bớt lại một phần, để sáng mai cho con Gấu mang về. Nàng cất miếng thịt trong chạn, úp một cái bát lên trên, yên tâm vì biết anh ta chẳng bao giờ thèm ngó ngàng đến bếp núc.
Sáng sớm hôm sau, con Gấu đến. Nàng mở chạn, lấy miếng thịt quay gói lại cho vào túi vải, cùng với những thứ khác, vội vã giục nó về ngay. Nàng sợ chồng bắt gặp con Gấu.
Buổi chiều, nàng cảm thấy ruột gan cứ bồn chồn không yên. Cái tâm trạng ấy, khiến nàng như mất hồn, hết đứng lại ngồi, đi ra lại đi vào. Không phải vì chiều nay, chồng nàng ở nhà. Anh ta cũng chẳng quan tâm đến trạng thái ấy của nàng, cứ nửa nằm nửa ngồi trên đi văng, vừa nghe nhạc, vừa đọc chưởng.
Bỗng có tiếng tru thảm thiết của con Gấu ở ngoài cổng. Nàng run bắn người, linh cảm thấy có một tai họa khủng khiếp. Nàng không đủ sức đứng lên mở cổng nữa. Chồng nàng hỏi:
– Cái con chó đen nhà cô phải không? Nó chưa chết à?
Nàng tái mặt lắp bắp:
– Anh… anh… bảo… bảo… ai… Ch… chết?
– Con chó nhà cô ấy. Nó không ăn cái miếng thịt quay ấy à? Tôi đã tẩm thuốc độc vào đấy đấy!
Nàng ngã khuỵu xuống, như một cây chuối thối gốc:
– Giời ơi là giời… Anh giết anh ấy rồi…
Nàng khóc và ngất đi. Chồng nàng hoảng sợ, vội vớ lấy dầu bạc hà xoa cho nàng, lay gọi nàng:
– Cô nói làm sao? Ai chết? Tôi giết ai? Cô điên rồi à?
Nàng dần dần tỉnh lại, cũng với tiếng hờ khóc càng to hơn:
– Giời ơi là giời… Anh giết anh ấy rồi… Anh ấy ốm… Tôi lấy miếng thịt bảo con chó mang về cho anh ấy… Đồ độc ác… Đồ dã man!…
Anh ta cho nàng một cái tát, hai cái tát. Nàng choáng váng, nín bặt, nhìn trừng trừng:
– Mày đánh nữa đi! Mày giết nốt tao đi! Tao có cần sống đâu mà… Quân giết người!
Anh ta dằn từng tiếng:
– Này! Cô nghe đây! Tôi định giết là giết con chó. Tôi ghét vì nó cứ lui tới đây tìm cô. Cô tưởng cô giấu tôi cho nó mà lọt à! Tôi biết hết! Nhưng tôi lại không ngờ anh ta lại ăn tranh của chó. Chính cô mới là người giết chết anh ta!
Nàng giận bắn người, miệng há hốc, mắt trợn trừng. Nàng ghê sợ cái suy nghĩ, cái cách nói trần trụi, tàn nhẫn của con người đó, nàng lảo đảo đứng dậy, xiêu vẹo đi ra phía cổng, nơi con Gấu đang đu người lên mà tru từng hồi. Anh ta quát to:
– Cô không được mở cổng! Tôi cấm cô!
Nàng không thèm nghe. Nàng đang ở vào cái trạng thái không biết sợ một cái gì – kể cả cái chết. Nàng mở toang cửa, ôm lấy đầu con Gấu mà khóc không thành tiếng. Nước mắt của con Gấu cũng ướt cả tay nàng. Rồi nó toài ra, ngoạm tay nàng kéo đi. Nàng đắn đo giây lát, rồi bảo:
– Gấu, ở đây nhé. Đợi chị.
Nàng ấn con Gấu ngồi bên góc cổng, rồi rảo bước vào nhà. Nàng nói với chồng, nhỏ nhưng quyết liệt:
– Tôi phải đi! Anh có cấm, tôi cũng đi! Nếu anh cấm tôi, tôi sẽ tố cáo anh. Rồi ra sao thì ra.
Anh ta nhìn vẻ mặt nàng, nhìn ánh mắt điên dại của nàng, nghĩ một lát, rồi gằn giọng:
– Thôi được cô cứ đi, nếu cô thích. Nhưng tôi nói để cô biết, cái mặt cô cũng chẳng đẹp đẽ gì, nên cứ liệu đấy mà phơi ra…
Nàng không thèm trả miếng, hấp tấp quay ra cổng, con Gấu vẫn đứng đấy, vội vã vượt lên trước, cứ một quãng, nó lại đứng đợi, vẻ bồn chồn. Mãi đến khi đi một quãng xa, nàng mới sực nhớ ra mình chẳng có một đồng nào cả. Nàng gọi:
– Gấu lại đây đã!
Và nàng đi đến một tiệm vàng. Nàng tháo chiếc dây chuyền, cái nhẫn, chủ tiệm nhìn vẻ mặt nàng, không hỏi, đem đi cân, thử, và nói giá, tính tiền, đếm tiền. Nàng lặng lẽ cầm bọc tiền và lặng lẽ ra khỏi tiệm.
Trên đường đi, cho đến lúc này, nàng mới nhớ lại tình cảm của mình. Và, những lời nói của chồng, làm nàng phải cân nhắc: “Có nên đến thẳng chỗ anh ấy không?”
Nàng hình dung ra căn nhà tồi tàn không khí lạnh lẽo của nó, vẻ mặt khổ não và ảm đạm của người quá cố, ánh mắt của người làng… Nàng thoáng rùng mình và do dự. Nàng thấy tốt nhất là hãy cứ sang nhà bên cạnh xem sao đã. Hai vợ chồng ông lão hàng xóm vốn phúc hậu, rất quý nàng, khi nàng còn là vợ anh giáo. Vả lại, trời cũng đã nhá nhem, ít người nhận ra nàng…
Đến gần ngôi nhà cũ, nàng thấy người vào ra thì đông mà tiếng khóc thì thưa thớt, nàng thấy mình có tội với anh ấy, thấy mình chẳng còn mặt mũi nào mà bước vào ngôi nhà đó, nhìn mặt người chồng cũ lần cuối. Nàng vội vã rẽ vào nhà bên cạnh, lén lút như một con ăn cắp. Gặp bà cụ, nàng òa khóc:
– Anh ấy đi rồi à, bà ơi?
– Tội nghiệp… sao chị biết mà về?
– Con Gấu nó đến báo cho cháu…
– Lạy giời Phật! Thảo nào… vừa mới trưa, nó sang nhà tôi. Ông lão nhà tôi đang nghỉ. Nó cứ vừa tru, vừa ngoạm tay ông lão lôi dậy. Sang, thì anh giáo đã đi rồi. Người ta bảo là do ốm sẵn mà ngộ độc thức ăn… Đồ nóng anh giáo không ăn mà chỉ ăn đồ nguội. à… à… ra con Gấu nó đến báo cho chị đấy… !
Những lời của bà già làm nàng buốt nhói đến tận ruột gan. Nàng muốn nói “Bà ơi! Chính cháu đã giết anh ấy!”, mà không dám. Một cơn ớn lạnh làm nàng rùng mình, nàng vội giở bọc tiền, dúi vào tay bà lão, mếu máo:
– Bà ơi… cháu có lỗi với anh ấy… Cháu chẳng còn mặt mũi nào mà nhìn anh ấy nữa. Số tiền này, cháu dành dụm được, nhờ ông bà với hàng xóm láng giềng lo cho anh ấy. Thôi thì, trăm sự nhờ cả ông bà…
Bà lão, thấy nàng như vậy, cũng mủi lòng:
– Chị nghĩ vậy, là phải! Để tôi đi gọi ông lão về!
Nàng vội níu tay bà cụ:
-Thôi bà ạ! Cháu xin phép bà, cháu phải về ngay đây!
Nàng nấc lên, vội vã đi như chạy ra khỏi cái ngõ hẹp nhà bà cụ. Và cứ thế, nàng lầm lũi đi. Con Gấu không biết nàng về. Nó bỏ nàng ngay từ lúc nàng đến gần nhà. Nó làm thế là đúng thôi. Chỉ có nàng mới là kẻ phụ bạc.
Đêm! Trăng suông. Con đường vắng. Những ngọn gió hoang thỉnh thoảng lại cồn lên, nàng có cảm giác đó là âm hồn đang đi lang thang…
Có tiếng chân chạy phía sau, làm nàng giật bắn người. Một bóng đen vụt qua, rồi đứng khựng lại. Con Gấu, nàng mừng rỡ, ngồi thụp xuống, ôm lấy đầu nó và cảm thấy trống ngực vẫn đập thình thình.
Con Gấu đi cùng nàng đến đoạn đường sáng đèn phố, thì dừng lại. Nó để yên cho nàng vuốt ve một lúc, rồi vùng chạy ngược về nơi mà nàng đã từ bỏ.
Tháng 3-1993

Con Gấu

 Con Gấu

Truyện ngắn của Nguyễn Quang Huy

(Giải ba cuộc thi truyện ngắn 1992 -1994 Tạp chí Văn nghệ quân đội)

 .

Nàng là một cô gái ngoại thành, con nhà trồng hoa. Từ ngày lên thành phố ở, nàng không trồng hoa nữa, nhưng vẫn rất yêu hoa. Hình như mỗi một loài hoa, đều mang một phần cái hồn trinh nữ của nàng, mong manh, e ấp, mộc mạc, thấm đẫm hương đồng nội. Nàng hay đi chợ và mua hoa lúc chín, mười giờ sáng, lúc ấy mới có hoa tươi vừa cắt ở vườn, chứ còn đi sớm quá, có khi lại là hoa từ chiều qua. Nàng chẳng lầm giữa hoa tươi và hoa cũ, nhưng nàng không muốn nhìn thấy vẻ rầu rĩ của những bông hoa hái qua đêm. Còn những bông hoa mới cắt xong, ngay hít thở cái mùi hương dịu lành của nó, cũng thấy thơm mát vào tận da, và nước từ cuống hoa rịn ra nơi vết dao cắt, cũng thoáng làm nàng chạnh nhớ một thời trinh bạch đã qua… Tiếp tục đọc

Đến với giáo dân Chiềng Ân

NGUYỄN TƯỜNG THỤY
.
Mc dù có thi gian sng và làm vic khá lâu Xuân Mai – Hòa Bình, nhưng đây là ln đu tiên tôi thc s lên Tây Bc. Chúng tôi đi thăm thú nhiu nơi, thưởng ngon phong cnh hùng vĩ ca núi rng Tây Bc nhưng đ li nhiu n tượng nht là chuyến đi thăm Ching Ân.
Ching Ân là mt xã thuc huyn Mường La tnh Sơn La. Th trn Ít Ong (huyn l huyn Mường La) cách thành ph Sơn La 40 km, còn mun lên Ching An thì đi tiếp 40 km na.
Ching Ân đ cao chng 1500 mét, so vi đ cao trung bình 500 – 700 mét ca huyn Mường La. Các bn Hơ Mông nm cheo leo trên đnh núi quanh năm sương mù bao ph vì vy con đường lên đây rt him tr và đy nguy him.

Chúng tôi xut phát t th trn Ít Ong. Mt na đon đu t th trn là dường đt đá ln nhn, xe phi qua nhiu ngm khá vt v. Na cui v phía Ching Ân là đường đã ri nha cách đây chng 2 năm. Cũng không hiu ti sao đường lên Ching Ân 40 cây s mà li ch ri nha phn ngn ch không làm t phn gc, tc là phía th trn Ít Ong. Lòng đường nha hp, ch đ cho mt xe lưu thông, nếu có xe ngược chiu thì phi nép vào mt bên vách núi ch nhau. Mc dù vy, trên đường đi, chúng tôi ch gp mt chiếc xe ti thu mua ngô và mt chiếc com măng ca theo chiu ngược li.
Hai bên đường nhìn qua các trái núi bt ngàn nhng ngô. Nhng nương ngô tri lên khp sườn núi, bt k ch nào cây ngô có th sng được. Ngô đã đến kỳ thu hoach nhưng người ta c đ ti cây phơi cho khô.
Toàn b phn đường nha là đường bám núi. Phía ta luy dương là nhng va đá chênh vênh xếp chéo nhau, nhng bi tre hoc cây rng đã trơ gc, ch ch ti đ nào đó s rơi bt thình lình xung đường mà không báo trước. Nhìn xung ta luy âm thy thăm thm, nhng mái nhà dưới thung lũng nhìn ch còn bé to. Đã thế, đa phn con đường không có rào chn. Ni nguy him t hai phía trên cao, dưới vc luôn luôn rình rp. Liên tc gp nhng đng đá rơi xung choán hết lòng đường, người ta phi san gt tm đ thông đường. Li có đon đường nha b st l, xe ti không th qua được. Nếu st thên chút na thì ch còn lưu thông được xe máy.
Tôi but ming:
–    5 km thôi nhé
Lp tc JB Nguyn Hu Vinh chn ngay li:
–    Không được nói gì hết.
Mi người im lng, phó mc cho lái xe. Ch cn sơ sy, thiếu tp trung hoc thiếu may mn mt tí là mi chuyn đu có th xy ra. Được cái, lái xe là mt tay lái giàu kinh nghim, đã nhiu ln đi qua con đường này.
Hu Vinh trn an:
–    Bây gi như thế này ch trước đây khi chưa ri nha còn nguy him, gian kh thế nào, anh không tưởng tượng được đâu.
Cách Ching Ân chng 5 km thì có mt đoàn thanh niên Hơ Mông đi xe máy mang cuc xung tr giúp.  Mt tp đón cha bng xe máy lên bn trước đ chun b làm l, mt tp đi trước đoàn thy đng đt đá nào rơi xung đường thì dng li san gt cho xe qua.
Càng lên cao, sương mù càng dày đc. Ti sao người Hơ Mông li cao như thế? Tôi đt câu hi và mi người gii thích người Mông là dân tc hay nhường nhn.  Trong quá trình khai thác, ci to thiên nhiên, các dân tc khác mun ln đến đâu thì h lùi lên cao đến đy. Vì thế, nơi cao nht, cũng có nghĩa là khó kiếm sng nht còn li là dành cho người Mông. Cách lý gii này không rõ thc hư thế nào.
Chúng tôi đến bn đã thy gn mt trăm người ra đón. Không khí vui như ngày hi. Ai cũng mc b qun áo đp nht, t tr nh đến người già, t n đến nam. Rc r nht là nhng b xiêm áo ca các thiếu n và bé gái Hơ Mông. Không khí lành lnh, sương khói m o, nhng gương mt tươi vui, nhng b qun áo sc s khiến cho ta có cm giác như xuân đang đến vi Ching Ân
Tôi đã tng cùng ăn, cùng vi đng bào các dân tc ít người. Nhưng đây là ln đu tiên, tôi đến mt bn Hơ Mông, tiếp xúc vi người Mông. Người Mông tht thân thin, gn gũi. H h hi ch đng bt tay chúng tôi như đón nhng người thân đi xa tr v.
Người Hơ Mông rt thích chp nh. H rt vui khi được chp vi người dưới xuôi lên, khi được chúng tôi chp cho h. Nét mt ai cũng vui. Đc bit, tr em Hơ Mông có đôi mt m to và sáng.
Sau khi làm l ti nhà nguyn xong, chúng tôi được tiếp đãi ba trưa vi nghi thc và tình cm đi vi khách quí, trong ngôi nhà sàn khá rng ca già làng C A Ký. Nhìn mâm thc ăn, biết được cuc sng ca người Hơ Mông nơi đây đã văn minh lm. Nhng chiếc bát ăn tráng men còn đp hơn bát ăn hàng ngày ca nhà mình. Ch khách cùng ngi xung sàn. Mâm ăn được gn lên mt vành nhôm hình tr. Dùng mâm ăn này tin và sang hơn hn các quán nhà sàn Hà Ni.
Khon tiếp rượu ca người Mông thì khi phi nói. Khó t đã đành nhưng đc bit không khí thân thin làm anh em chúng tôi phn chn hn lên. Chúng tôi ln lượt phi cng ly vi tt c nhng người có mt. Mt cô gái Mông nht đnh bt tôi phi thay cái cc thy tinh bng chiếc cc s màu xanh ngc cho ging chiếc cc ca cô.
Cuc vui my ri cũng phi tàn. Chúng tôi bn rn chia tay vi bà con giáo dân Hơ Mông. Nhng cánh tay vy mãi, vy mãi làm cho cu lái xe ch dám đi tht chm cho đến khi khut tm nhìn ca ch và khách.
Tm bit Ching Ân. Dù đã tng dc ngang, xuôi ngược nhưng tôi d b chinh phc bi s t tế, và cao hơn là nhng điu thánh thin. Sau này có dp, nht đnh tôi s li đến vi bà con giáo dân Ching Ân mà không băn khoăn gì con đường him tr và nguy him. S ung rượu tht nhiu đ mng cho bà con giáo dân đã thoát khi cuc sng lc hu, nhiu h tc mà khi hi, h đu tr li là nh làm theo lời Chúa.

Các nương ngô trải khắp sườn núi
Thu mua ngô
Qua ngầm
Những phiến đá xếp chéo đã rời nhau, đã rơi và tiếp tục rơi xuống bất kể lúc nào.
Nhìn xuống dưới vực
Thanh niên Chiềng An dọn đường cho xe vượt qua. Những đống đá từ vách núi rơi xuống như thế này rất nhiều.
Gặp gỡ
Trẻ em Hơ Mông
Chuẩn bị đãi khách
Chúc nhau
Với già bản Cứ A Ký
Nhất định chú sẽ trở lại Chiềng Ân
Chia tay
10/10/2012
NTT
This entry was posted on 11/10/2012, in Báo chí.