Archive | 19/10/2012

Thị Nở nhà tôi với ngày của phụ nữ

Thị Nở nhà tôi với ngày của phụ nữ

NGUYỄN TƯỜNG THỤY

.

Vietnamnet: Có nhiều cách để cánh đàn ông bày tỏ tình cảm với người phụ nữ thân yêu nhất của mình, nhất là vào những dịp kỷ niệm. Bài viết với tất cả yêu thương trìu mến này có lẽ là bó hoa vô giá tác giả tặng cho “Thị Nở” của mình….

TIN BÀI KHÁC

.

     Vào một dịp “ngày của chị em” đã lâu rồi, trên đường đi làm về, tôi chọn một bó hoa đẹp nhất sạp, lựa loài hoa, màu hoa cẩn thận để tặng vợ. Lòng hân hoan, tưởng tượng ra cảnh gương mặt vợ rạng rỡ, nhìn chồng tình tứ, tràn ngập hạnh phúc: “Em cảm ơn anh”. Tiếp tục đọc

Advertisements

Thị Nở nhà tôi với ngày của phụ nữ

Nguyễn Tường Thụy

Vietnamnet: Có nhiều cách để cánh đàn ông bày tỏ tình cảm với người phụ nữ thân yêu nhất của mình, nhất là vào những dịp kỷ niệm. Bài viết với tất cả yêu thương trìu mến này có lẽ là bó hoa vô giá tác giả tặng cho “Thị Nở” của mình …
     Vào một dịp “ngày của chị em” đã lâu rồi, trên đường đi làm về, tôi chọn một bó hoa đẹp nhất sạp, lựa loài hoa, màu hoa cẩn thận để tặng vợ. Lòng hân hoan, tưởng tượng ra cảnh gương mặt vợ rạng rỡ, nhìn chồng tình tứ, tràn ngập hạnh phúc: “Em cảm ơn anh”.
     Nhưng chẳng hiểu sao, về đến nhà, thị trân trân nhìn tôi đang ôm bó hoa như nhìn một sinh vật lạ. Tôi trao hoa cho thị, nhe răng ra:
      –    Anh tặng em …
     Mặt thị tái đi, lùi lại. Thị bước sang phải nửa bước cho thẳng với lối thoát ra cửa rồi rón rén bước lên một bước rất là cẩn thận, sờ lên trán tôi xem có bị làm sao không. Hình như thị còn định dắt lũ trẻ con ù té chạy hay sao ấy. Thực ra, sau này tôi mới nhớ lại như thế chứ lúc ấy, tôi không để ý. Tôi biết là mình không bị điên, điều đó tôi rõ lắm. Bằng chứng là chương trình phát thanh do tôi biên tập hôm ấy được sếp ký duyệt cái roẹt, chỉ thêm mỗi một dấu phảy.

      Có vẻ cháy kịch bản đến nơi nhưng tôi cố vớt vát:

     –    Anh tặng em nhân ngày Phụ nữ Việt Nam. Anh chúc em …
     Hình như lúc này, thị mới để ý đến chuyện ngày mai là 20/10. Thị nhìn bó hoa, dửng dưng:
–    Bao nhiêu?
Với người khác có lẽ tôi phải hỏi lại xem bao nhiêu cái gì? Bao nhiêu bông hoa hay mất bao nhiêu thời gian để chọn nó. Nhưng với thị, tôi biết chắc là thị hỏi đến giá tiền. Tôi đã định khai rút đi nhưng chợt nghĩ, mình vẫn dạy con không được nói dối nên đành khai thật với thái độ của đứa trẻ mắc lỗi:
     –    Năm chục.
     Thị buông một câu:
     –     Phí tiền.
     Thị xót. Khổ thân thị chưa. Năm chục nghìn hồi ấy vào tay thị thì đã đong được hơn một yến gạo hoặc mua được một cân rưỡi thịt.
     Thằng Nhỡ muốn giải thoát bố khỏi tình cảnh ấy; nó đỡ lấy bó hoa cắm vào lọ, bảo:
–         Mẹ xem này, hoa đẹp chưa. Bố con khéo chọn nhỉ.
Thế rồi nó hồn nhiên thả ra một câu:
–         Bó hoa này cũng phải tới ba chục chứ không ít.
Câu nói của thằng Nhỡ vô tình khoét đúng vào nỗi đau của thị. Thị nói như sắp khóc:
–    Ba chục là giá chợ. Còn giá đối với bố mày nó khác. Nhìn bố mày thế kia, đứa nào chẳng muốn lừa.
     Có lẽ thị biết là mình lỡ lời. Đằng nào thì cũng mua rồi. Vả lại, ngoài việc tiếc tiền ra thì thị vẫn cảm nhận được tình yêu của chồng qua việc mua hoa tặng thị. Thị ngồi xuống ngắm:
      –    Ừ, hoa đẹp đấy. Nhưng cái Nhớn về, cứ bảo là bố mua cho hai mẹ con nhé.
     Thị nhắc rất khéo về sai sót của tôi. Nhưng thị không muốn để tâm lý băn khoăn về việc ấy kéo dài. Thị xuê xoa, hóm hỉnh:
      –     Em cứ tưởng anh tặng con bé nào, nó không nhận rồi mới mang về tặng vợ chứ.
     Còn một lần nữa tôi tặng hoa cho vợ. Đó là dịp kỷ niệm ngày cưới. Không thấy kêu phí tiền nữa nhưng thị nói trong thổn thức:
 –     Thôi, từ nay anh đừng tặng gì cho em nữa. Anh đã tặng cả cuộc đời anh và tất cả những gì anh có được cho em rồi còn gì. Tình cảm của anh, em cảm nhận được hàng ngày mà.
     Lần này thì đến lượt tôi ngạc nhiên. Trời ơi! Tôi cứ ngỡ thị đọc câu nào đó trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Đấy là câu nói văn hoa duy nhất của thị kể từ ngày chúng tôi lấy nhau đến giờ.
     Ngoài hai lần tặng hoa ấy ra, tôi chẳng tặng cho vợ cái gì cả, trừ mấy món quà nho nhỏ nhưng là khi còn đang chim chuột thị. Bảo là tôi không ga lăng, không quan tâm đến vợ thì oan cho tôi quá. Điều cốt lõi của chuyện này là tôi không bao giờ giữ tiền riêng, còn thị thì không muốn phí tiền vào những thứ mà thị cho là phù phiếm khi vợ chồng còn chật vật. Tiền lương hay khoản thu nhập thêm nào đó, tôi đều đưa hết cho vợ. Thấy tôi cần gì, thị mua về, kể cả thuốc lá và những lon bia. Tôi đi đâu thì thị đưa tiền cho, không loại trừ đi dự sinh nhật, tặng quà cho bạn nữ. Thị cũng không cần hỏi tiêu gì, còn bao nhiêu. Còn tôi cứ lôi ra cả nắm tiền lẻ còn lại đưa hết cho thị. Cái đó đã thành thói quen.
     Chuyện đóng học, may sắm cho con cũng không vì thế mà ảnh hưởng vì thị chăm cho chúng lắm. Tôi vừa đỡ phải giữ tiền, vừa giải tỏa được nỗi nghi ngờ của vợ.
     Điều quan trọng là thị thấy mình có quyền. Khi giữ tiền, thị cảm thấy đó là tiền của thị, chi tiêu trong nhà hoàn toàn do thị quyết định. Vì vậy, thị phải lo cho cái túi tiền của thị. Chồng đã thế, thị không lo thì ai lo. Nếu tôi không mua bó hoa năm chục nghìn thì có phải số tiền ấy vẫn còn trong túi của thị không. Lấy tiền của thị để mua quà tặng thị là một điều vô nghĩa.
     Chính vì thế mà thị khổ nhưng thị không bao giờ để ý. Có lần lĩnh được hai triệu tiền nhuận bút, tôi không đưa cho thị mà rủ thị đi siêu thị, bắt thị mua sắm cho bằng hết. Thứ thì thị chê xấu, thứ chê đắt. Cuối cùng, thị chọn hai món đồ vặt, hết một trăm nghìn. Vậy là túi tiền của thị tăng thêm được một triệu chín nữa.
     Trong suy nghĩ của thị, cái ăn mới là thiết thực. Nó cung cấp dinh dưỡng cho con người ta. Cái gì thị cũng sợ thiếu. Nhà có việc, y như rằng thừa mứa thức ăn. Bữa sau, thị chỉ mua thức ăn cho chồng và lũ trẻ, còn thức ăn cũ thì thị hâm lại, ăn rất ngon lành. Còn mặc ư? Theo thị, áo quần không thể mang lại chất bổ cho con người, chỉ cần ấm là được. Dù có đẹp hay xấu, nó cũng không làm cho con người thị khác đi. Nhưng với chồng con thì khác. Nhìn chồng con mặc đẹp, thị cũng thấy tự hào vì đấy là bộ mặt của thị. Cái lối nghĩ này của thị ai cũng biết là mâu thuẫn nhưng nếu không như thế thì đã không phải là thị.
     Thị có một cái áo khoác dài ngang đầu gối, kiểu như áo ba-đờ-xuy của ông Tây ngày xưa. Nguyên cái áo ấy trước đây thị mua cho cái Nhớn, sau nó chê lỗi mốt, bỏ đi. Thị không dám vứt. Thị chỉ biết là thị mua cho nó hết nửa chỉ vàng. Ai lại vứt nửa chỉ vàng đi bao giờ. Thị tiếc, trong khi đem cho chưa chắc đã có ai nhận. Mà giá có ai chịu nhận thì thị đã không tiếc. Vì vậy, cái sứ mạng không được lãng phí đặt lên vai thị. Mùa rét, đi đâu thị cũng mặc nên tôi gọi cái áo ấy là áo Trạch Văn Đoành. Thoạt đầu, thị không hiểu nên không nói gì. Đến khi tôi đưa truyện ngắn “Đôi móng giò” có nhân vật Trạch Văn Đoành ra cho thị đọc, bị thị chửi cho một trận. Thị dí ngón tay trỏ vào trán tôi làm tôi suýt ngã ngửa, may có thành ghế đỡ được:
     –     Em không thấy thằng nào đểu như anh.
     Rồi thị cấu, thị véo vào sườn chồng, cười rinh rích, có vẻ như hãnh diện về cái áo của mình lắm.
     Không phải là thị không có áo mới. Hôm tết vừa rồi, cái Nhớn học ở bên Hàn về, mua tặng mẹ cái áo khoác rất đẹp, thị mắng:
      –     Tao không cần, mày để mà mặc. Phí tiền (lại điệp khúc phí tiền).
      Cái Nhớn van nài:
     –     Con mua rẻ ấy mà, tính ra tiền Việt chỉ ngang với … năm mươi nghìn thôi.
      Mãi rồi thị cũng chịu nhận nhưng cất đi. Có lẽ thị đợi đến khi nào cái áo Trạch Văn Đoành nát mới chịu lôi cái áo kia ra dùng. Mà 20 năm nữa chưa chắc đã nát vì nó bền lắm.
      Thị lấy cái sự tự làm khổ mình để tự hào. Lúc nào, thị cũng cậy mình nhà quê. Thị cho như thế là hay ho lắm. Đấy là điều tôi ghét nhất. Có cho thị sang Mỹ sống vài chục năm thì vẫn cứ thế thôi.
Bài đăng ở Vietnamnet

Giải Nobel cho Mạc Ngôn từ hướng nhìn xã hội

 Giải Nobel cho Mạc Ngôn từ hướng nhìn xã hội

                                                    Nguyễn Hoàng Đức

 .

Nobel là một giải thưởng có uy tín bậc nhất thế giới giành cho khoa học và văn học. Vì thế, trước hết xin chúc mừng tác giả Mạc Ngôn và quốc gia cộng sản Trung Quốc, sau nữa là nhân dân Trung Quốc đã đoạt giải Nobel văn chương thứ hai sau giải Nobel thứ nhất giành cho Cao hành Kiện. Tuy nhiên, dù đồng tình hay phản đối thì mỗi giải Nobel đều để lại bài học cho chúng ta chiêm ngắm và phản tỉnh cả cái hay lẫn cái dở của nó. Trong bài này, tôi không có ý định tìm tòi những giá trị mỹ học của văn chương Mạc Ngôn, bởi giá trị mỹ học cũng như tu từ pháp không phải là cái dễ dàng hiển lộ trong thời gian ngắn được, ngược lại nó đòi hỏi thời gian lâu dài để thẩm thấu và thẩm định. Nhưng văn học là nhân học! Văn học là cuộc đời! Vì thế nếu cần phải nhìn ra một bài học về xã hội, thì điều đó cũng chẳng kém quan trọng hơn bài học về mỹ học. Vả lại cái nhìn về xã hội sẽ thêm vào cho chúng ta cái gọi là “chân lý là toàn thể”. Và nó càng tạo ra một đánh giá toàn thể hơn về tầm vóc của tác giả. Tiếp tục đọc

Giải Nobel cho Mạc Ngôn từ hướng nhìn xã hội

Nguyễn Hoàng Đức
Nobel là một giải thưởng có uy tín bậc nhất thế giới giành cho khoa học và văn học. Vì thế, trước hết xin chúc mừng tác giả Mạc Ngôn và quốc gia cộng sản Trung Quốc, sau nữa là nhân dân Trung Quốc đã đoạt giải Nobel văn chương thứ hai sau giải Nobel thứ nhất giành cho Cao hành Kiện. Tuy nhiên, dù đồng tình hay phản đối thì mỗi giải Nobel đều để lại bài học cho chúng ta chiêm ngắm và phản tỉnh cả cái hay lẫn cái dở của nó. Trong bài này, tôi không có ý định tìm tòi những giá trị mỹ học của văn chương Mạc Ngôn, bởi giá trị mỹ học cũng như tu từ pháp không phải là cái dễ dàng hiển lộ trong thời gian ngắn được, ngược lại nó đòi hỏi thời gian lâu dài để thẩm thấu và thẩm định. Nhưng văn học là nhân học! Văn học là cuộc đời! Vì thế nếu cần phải nhìn ra một bài học về xã hội, thì điều đó cũng chẳng kém quan trọng hơn bài học về mỹ học. Vả lại cái nhìn về xã hội sẽ thêm vào cho chúng ta cái gọi là “chân lý là toàn thể”. Và nó càng tạo ra một đánh giá toàn thể hơn về tầm vóc của tác giả.

Hầu hết mọi người dường như bất ngờ đến ngã ngửa khi nghe tin Mạc Ngôn nhận giải Nobel văn học. Bất ngờ bởi trước đó dường như chẳng có dự đoán nào dù phiêu lưu nhất đã lượn một vòng cua quanh cái tên Mạc Ngôn. Bất ngờ thứ hai mang tính nguyên lý bất khả biện hộ về việc: giải Nobel  đã bị văng ra quá xa khỏi tôn chỉ mục đích của văn học phổ quát cũng như chính giải thưởng có tên Nobel. Và bởi sự chệch đường ray tôn chỉ mục đích nhân văn này, có lẽ lần đầu tiên trên thế giới người ta được đón chào một vương miện Nobel đội trên đầu một nhà văn “quốc doanh-mậu dịch”, một cốt cán của nền văn học khét tiếng chuyên chính do Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo vẫn đang khư khư giữ lá cờ quyền lực vi hiến, một thứ bạo quyền còn đang cầm tù Lưu Hiểu Ba như nhốt một con gà trong chuồng không cho rời khỏi nhà để đi lĩnh giải Nobel hòa bình năm 2010, và một thứ bạo quyền đã gây ra dăm chục vụ tự thiêu của người Tây Tạng vì đời sống quá nhiều “tự do” theo kiểu Trung Cộng. Đúng là như vậy, nhân vật chính Mạc Ngôn là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc đã đội lên đầu vương miện Nobel văn học 2012.
“Cái gì hợp lý thì cái đó tồn tại”, triết gia Hegel nói. Ngay khi tác giả Mạc Ngôn đoạt giải Nobel, tại Trung Quốc đã ào lên một trào lưu phản đối. Nghệ sĩ Ải Vị Vị cho rằng, đó là một giải Nobel không thích đáng như: “Trao Giải Nobel Văn học về cho một người xa cách với hiện thực là một cách làm lạc hậu và vô cảm … Ông ấy có thể là một nhà văn tốt. Nhưng ông ấy không phải là một nhà trí thức có thể đại diện cho thời nay của Trung Quốc. Trí thức hiện đại có một quan hệ sâu sắc với hiện thực của đất nước ”. “Một nhà văn không trực diện với hiện thực là một người nóidối.” (Phan Ba dịch từ Spiegel Online).
Một số người khác thì chỉ trích,Mạc Ngôn quá thân với chính quyền. thậm chí, có nhiều còn đòi phế truất giải Nobel giành cho Mạc Ngôn. Đó là dư luận, nó có thể có lý hoặc chưa. Giờ tôi xin được bàn về việc giải Nobel này đã đi chệch đường ray nguyên lý, cũng như tôn chỉ mục đích nhân văn của văn chương.
Một nhà văn muốn lớn, trước hết cũng là điều kiện tiên quyết anh ta phải bất mãn trước hiện thực. Bởi lẽ cái vẻ đẹp lớn nhất của văn học mà các ngành nghệ thuật khác như âm nhạc, hội họa không thể có được, theo triết gia Aristote, đó là văn học có thể giành lại cho con người giá trị công lý. Một con người, một sắc tộc bị oan khiên trước bạo quyền, thì chỉ có chữ nghĩa, văn học, với các luật sư, thầy cãi, nhà văn, nhà báo, lời của người làm chứng, và toàn thể sự phản ứng bằng lời của lương tri mới có thể đem lại công lý cho những người bị oan, hoặc chí ít nó cũng tố cáo những gì phi lý bất công. Điều này các môn nghệ thuật khác không thể trực tiếp làm được.
Một nhà văn mà hài lòng với hiện thực thì anh ta không thể nào muốn hoán cải hiện thực còn đầy rẫy bất công ở dưới thế này, vì thế bất mãn là nguyên tắc khao khát công lý và hoàn thiện của nhà văn. Nhà văn bất mãn trước hiện thực bất công. Mà cơ quan bất công lớn nhất luôn luôn là nhà nước. Bởi vì nhà nước với quân đội, công an, và vô số tổ chức quyền lực trong tay luôn thường trực để làm ra bất công. Chỉ có nhà nước có pháp quyền “lý tưởng” mới có thể không bất công. Nhưng nhà nước lý tưởng đó chưa từng có trên đời mà nó chỉ là cứu cánh để con người hướng tới. Và để có nhà nước pháp quyền lý tưởng, thì nhà văn là lực lượng hàng đầu cần có sẵn sự bất mãn thường trực giống như lương tâm luôn thức tỉnh để xây dựng một nhà nước kiểu mẫu. Sự bất mãn của nhà văn là nguyên tắc thức tỉnh có thể ví như đảng đối lập trước đảng cầm quyền. Chúng ta chớ có suy nghĩ thiển cận cho rằng đó là sự chống đối. Người Pháp có câu “người ta chỉ có thể dựa trên những gì chống lại mình”. Khi người ta tựa lưng vào nghế chính là tựa vào cái phản lại lưng mình. Vì thế nhiều sự chống đối, đặc biệt sự chống đối cái ác, cái xấu, hay phản động lại cái ngu si, tham nhũng nhiều khi còn đáng quí hơn nhiều lần cái nhân danh cách mạng để làm những điều phản tiến bộ, chậm tiến hay giật lùi lịch sử.

Trước sự phản đối của một số người về quyết định trao giải Nobel văn chương cho Mạc Ngôn với lý do ông quá gần gũi với chính quyền, cơ hồ là phát ngôn viên của một chế độ độc tài và tàn bạo, Per Wastberg, một thành viên trong Viện Hàn Lâm Thụy Điển phát biểu trên trang mạng của tờ nhật báo Svenska Dagbladet là Viện không quan tâm đến quan điểm chính trị của các nhà văn:


“Tất cả các lựa chọn – vốn dựa trên chất lượng văn chương chứ không phải bất cứ điều gì khác – bao giờ cũng gây ra những tranh cãi nhất định.”(Tính chính trị của giải Nobel văn chương, Nguyễn Hưng Quốc)

Văn chương là văn chương, chính trị là chính trị ư? Hãy xem với trường hợp của đại văn hào Nga Leo Tolstoi một tác giả xuất sắc thừa xứng đáng với giải Nobel, có phải Hội đồng Nobel đã loại bỏ ông chỉ vì lý do chính trị  ban giám khảo đã bác bỏ đề nghị ấy với lý do Tolstoy có “tư tưởng thù nghịch một cách hẹp hòi đối với mọi biểu hiện của văn minh”’ ? (nt). Rồi còn hàng chục trường hợp khác nữa.
Đành rằng Hội đồng Nobel cũng chỉ do con người dựng nên, người ta có quyền mắc sai lầm như mọi tổ chức con người khác. Chính trị cũng như vấn đề nhà nước luôn luôn là lý do cao nhất của văn chương bởi lẽ chính trị liên quan trực tiếp đến quyền Sinh – Tử của mỗi người, và nhà nước với hệ thống lập pháp, hành pháp hay tư pháp là sức mạnh cũng như giá trị sát cánh nhất cùng công lý. Xưa nay tôn chỉ mục đích của giải Nobel thường vẫn ưu tiên những tác phẩm và tác giả dấn thân cho các vấn đề thời sự nóng bỏng, hiện thực cuộc đời, mong nhắm tới mục đích nhân bản là cứu chuộc những con người bất công đau khổ khỏi những thế lực bạo hành bất công. Nhưng với giải Nobel giành cho Mạc Ngôn, đáng tiếc thay Hội đồng Nobel lại quay lưng lại trước những giá trị truyền thống hay là trao giải nhân bản ngược! Đáng tiếc thay!
Hà Nội 16/10/2012
Tác giả gửi cho NTT blog


 

 

This entry was posted on 19/10/2012, in Báo chí.

Từ Lỗ Tấn đến Mạc Ngôn – nghĩ về hội chứng ăn thịt người trong văn học Trung Quốc

Từ Lỗ Tấn đến Mạc Ngôn – nghĩ về hội chứng ăn thịt người trong văn học Trung Quốc

Trần Mạnh Hảo

.

“Mình là một kẻ có truyền thống ăn thịt người trên bốn nghìn năm”…”Mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”…

(Lỗ Tấn – Nhật Ký người điên)

Viết kỷ niệm 76 năm ngày giỗ của đại văn hào Lỗ Tấn ( 19.10.1936 – 19.10.2012)

Lỗ Tấn là nhà văn Trung Quốc nổi tiếng, bậc thầy thể loại truyện ngắn, người đặt nền móng cho văn chương hiện đại Trung Quốc. Chủ đề “truyền thống ăn thịt người của dân tộc Trung Hoa” ám ảnh suốt những trang văn của ông như một lời cảnh báo nước Trung Hoa đã, đang và sẽ bị chủ nghĩa DUY ÁC thống trị.

 Mạc Ngôn, người vừa được giải Nobel văn chương là một hậu duệ tuyệt vời của Lỗ Tấn, vẫn tiếp tục đưa món thịt người khoái khẩu Trung Hoa vào văn chương của mình, đặng hoàn tất hành trình mấy nghìn năm văn học  Trung Quốc về nỗi ám ảnh người ăn thịt người. Tác phẩm Mạc Ngôn có chuyện ăn thịt người thật ru ? Có đấy, hồi sau sẽ rõ. Tiếp tục đọc

Từ Lỗ Tấn đến Mạc Ngôn – nghĩ về hội chứng ăn thịt người trong văn học Trung Quốc

Trần Mạnh Hảo
“Mình là một kẻ có truyền thống ăn thịt người trên bốn nghìn năm”…”Mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”…
(Lỗ Tấn – Nhật Ký người điên)
Viết kỷ niệm 76 năm ngày giỗ của đại văn hào Lỗ Tấn ( 19.10.1936 – 19.10.2012)
Lỗ Tấn là nhà văn Trung Quốc nổi tiếng, bậc thầy thể loại truyện ngắn, người đặt nền móng cho văn chương hiện đại Trung Quốc. Chủ đề “truyền thống ăn thịt người của dân tộc Trung Hoa” ám ảnh suốt những trang văn của ông như một lời cảnh báo nước Trung Hoa đã, đang và sẽ bị chủ nghĩa DUY ÁC thống trị.
 Mạc Ngôn, người vừa được giải Nobel văn chương là một hậu duệ tuyệt vời của Lỗ Tấn, vẫn tiếp tục đưa món thịt người khoái khẩu Trung Hoa vào văn chương của mình, đặng hoàn tất hành trình mấy nghìn năm văn học  Trung Quốc về nỗi ám ảnh người ăn thịt người. Tác phẩm Mạc Ngôn có chuyện ăn thịt người thật ru ? Có đấy, hồi sau sẽ rõ.

Ngay sau khi nhận giải văn chương Nobel, trả lời một báo Pháp, Mạc Ngôn nói ông thích nhất tác phẩm “Tam quốc chí” của La Quán Trung. Ngày bé, đọc “Tam quốc chí”, kẻ viết bài này quá kinh hãi khi đọc đến đoạn có một người ái mộ Lưu Bị ( lúc còn hàn vi) đến mức mời vị hoàng thân nhà Hán này đến nhà chơi, nhưng vì nghèo quá, không có gà lợn ngan ngỗng, đã giết thịt bà vợ yêu quý của mình làm bữa cỗ thịnh soạn đãi Lưu Bị.
Trong danh tác “Thủy hử” của Thi Nại Am, bàng bạc một không khí ăn thịt người, bánh bao nhân thịt người, thịt người giả thịt nai, thịt người ngon hơn thịt lợn dê hay trâu bò khiến người đọc có khi nổi da gà vì thú ăn thịt người của dân Trung Hoa. Nhân vật Lý Qủy giả làm Lý Qùy chuyên chặn đường giết người cướp của. Khi Lý Qùy bắt được Lý Qủy, bèn ngả anh này ra cắt tiết làm thịt như làm thịt một con chó, rồi ăn ngon lành trong mấy ngày túy lúy mồi ngon rượu ngọt…
Vợ chồng Trương Thanh & Tôn Nhị Nương trong “Thủy Hử”trước khi lên Lương Sơn Bạc từng làm nghề giết thịt người để ăn, đem thịt người giả làm thịt bò, thịt heo mang ra chợ bán. Hai vợ chồng này mở quán bán các món nhậu làm bằng thịt người trên đồi Thập tự, chuyên đánh thuốc mê giết người xẻ thịt. Võ Tòng đả hổ chỉ chút nữa đã bị Tôn Nhị Nương thọc tiết như heo…
Trước khi lên Lương Sơn bạc, Tống Giang suýt nữa đã bị mổ bụng lấy gan làm thuốc giải rượu cho đầu lĩnh Trương Anh…
Tuyệt tác “ Tây Du ký” của Ngô Thừa Ân mô tả sư phụ Trần Huyền Trang và đệ tử Trư Bát Giới đi thỉnh Kinh Thiên Trúc đã mấy lần bị yêu quái, bị bọn đầu lĩnh lục lâm thảo khấu toan làm thịt ăn nếu không có đệ tử Tôn Ngộ Không kịp đến cứu thoát…Ngay cả một số nữ yêu quái xinh đẹp cũng thèm ăn thịt nhà sư điển trai này…
“Đông Chuliệt quốc” từng kể nhiều chuyện ăn thịt người như là một truyền thống văn hóa Trung Hoa. Chỉ xin nêu ra mấy thí dụ :
Tề Hoàn công được coi là minh quân thời Xuân Thu, từng làm chủ soái chư hầu trong 35 năm, được sử phong là vua tốt có văn hóa “Hoàn văn”, lại chỉ thèm món thịt trẻ con, nghe nói ngon lắm mà mình chưa được ăn. Dịch Nha là bề tôi nịnh thần chiều ý nhà vua, bèn về đè con trai thừa tự của mình ra giết thịt, làm ra các món ngon tuyệt dâng Tề Hoàn công. Tề Hoàn công khen món thịt trẻ con ngon nhất trần đời, bèn ngỏ ý tháng nào cũng ăn cho đỡ nhớ…
Một thuở Nước Sở vây thành nước Tống. Người Tống hết lương thực, bèn đổi con cho nhau mà giết ăn, còn xương trẻ con thì dùng thay củi nhóm lửa để nhà này xào nấu thịt trẻ con nhà khác và ngược lại…
Tấn Châu Xước bắt được hai tướng nước Tề là Thực Xước và Quách Tối bèn giết thịt ăn, da hai ông này dùng làm nệm trải gường vừa êm vừa ấm…
Đến các thủy thần trên hàng nghìn con sông lớn bé Trung Hoa mỗi năm cũng ăn thịt đến hàng trăm ( có thể hàng nghìn) gái trinh vô tội. Mỗi lần thủy thần dâng vỡ đê lụt lội, dân làng lại phải ném một cô gái trinh còn sống xuống sông cho Thủy thần ăn tươi nuốt sống…
Sử Trung Hoa chép : Lã hậu vợ Lưu Bang Hán Cao tổ từng giết đại tướng Hàn Tín rồi băm nát như tương để làm mắn ông này, đoạn gửi cho các chư hầu ăn món mắn Hàn Tín để thấy thứ mắn tuyệt chiêu của nhà Hán có ngon không ?
Thuở Phục Ba tướng quân Mã Viện chinh nam đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, bị Hai Bà đánh trả tới cùng. Khi bị quân Hán dùng kế tiện nhân cởi truồng tấn công nữ binh của Nữ vương Việt, quân Việt xấu hổ quá đã thua trận. May mà Hai Bà nhảy xuống Hát giang trầm mình tự tử; nếu không, Hai Bà không may rơi vào tay Mã Viện, chắc chắn đã biến thành hai hũ mắn gửi về dâng vua Hán dùng thử xem mắm làm bằng thịt hai vua bà xứ Man di này ngon tới đâu ?
Dân tộc Trung Hoa có nền văn minh sớm vào bậc nhất thế giới. Ngay từ thời cổ đại, Trung Hoa đã sinh ra nhiều vị thánh tuyệt vời cứu nhân độ thế : Khổng tử, Mạnh tử, Lão tử, Trang tử, Chu Văn Vương, Mặc tử, Tuân tử…Thời bách gia chư tử ( Xuân Thu Chiến quốc) là thời loạn lạc nhưng cũng là thời nở hoa nhân bản của hàng chục nhà lấp thuyết nhân văn giúp nền văn minh Trung Hoa hướng thiện.
Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân sinh năm 1881 ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, mất ở Thượng Hải 1936
Lẽ nào, trong một xứ sở có nền văn minh xuất chúng như thế, nơi ánh sáng của triết học, thi ca rạng ngời như thế, lại cũng là nơi mà cái ác, cái xấu xa ghê tởm của thói người ăn thịt người dã man tới mức đầu thế kỷ XX, văn hào Lỗ Tấn còn đau đớn thốt lên cái thuộc tính Trung Hoa ăn thịt lẫn nhau kia kinh tởm đến vô cùng bằng truyện ngắn “ Nhật ký người điên”, viết về một trí thức chống lại chế độ man rợ bị nhà cầm quyền vu cho là điên và bắt nhốt chuẩn bị làm thịt. Xin quý vị đọc một ít đoạn trích từ truyện ngắn này, như sau :
“…Mấy hôm trước, người tá điền bên thôn Lang Sói sang báo mất mùa, kể chuyện với ông anh mình rằng bên ấy, có một tên đại ác vừa bị người ta đánh chết. Có kẻ đến moi tim moi gan đem về rán mỡ ăn cho được can đảm. Mình nói xen vào mấy câu thì ông anh và người tá điền trố mắt nhìn. Hôm nay, mới biết là ánh mắt họ cũng giống hệt ánh mắt những người gặp ngoài đường kia! 
Nghĩ lại mà lạnh từ đầu đến chân.
Họ đã ăn được thịt người thì vị tất lại không ăn được thịt mình!
Rõ ràng câu nói “Ăn thịt mày một miếng…” của người đàn bà nọ, tiếng cười của những người mặt tái mét, răng nhọn hoắt kia, và mẩu chuyện của người tá điền hôm trước, đều là những ám hiệu cả. Mình thấy rõ trong lời nói của họ có thuốc độc, trong giọng cười họ có dao găm. Răng thì nhăn ra trắng hếu. Toàn là bọn ăn thịt người!
Theo mình nghĩ, tuy mình không phải là một người ác, nhưng từ ngày mình giẫm lên cuốn sổ ghi nợ của cụ Cố Cữu, thì không còn thể nói chắc được nữa. Hình như họ có ý định gì, không thể nào đoán ra được. Huống hồ, họ giở mặt một cái là có thể đổ riệt cho người ta là người ác. Còn nhớ hồi ông anh bầy cho mình làm luận. Mặc dù nhân vật đem ra bàn tốt đến đâu, hễ tìm được cách chê vài câu là ông ta khuyên cho mấy khuyên. Và đối với những nhân vật xấu, hễ lựa lời bào chữa, là ông ta phê ngay bên cạnh “Phiên thiên diệu thủ, dữ chúng bất đồng ” (Có tài biện luận! Độc đáo!). Như vậy thì mình làm sao đoán biết được tâm địa họ thế nào? Huống hồ khi họ đã muốn ăn thịt mình!
Việc gì cũng phải suy nghĩ mới vỡ nhẽ. Cổ lai, việc ăn thịt người thường lắm, mình cũng còn nhớ, nhưng không được thật rõ. Liền giở lịch sử ra tra cứu thử. Lịch sử không đề niên đại, có điều trang nào cũng có mấy chữ “nhân, nghĩa, đạo đức” viết lung tung tí mẹt. Trằn trọc không sao ngủ được, đành cầm đọc thật kỹ, mãi đến khuya mới thấy từ đầu chí cuối, ở giữa các hàng, ba chữ: “Ăn thịt người”.
Những chữ đó trên trang sách và những lời nói của người tá điền cũng lại cười khì khì và trợn mắt nhìn mình một cách quái gở.
Mình cũng là người, họ định ăn thịt mình thật!
Dịch Nha(8) nấu thịt con cho Kiệt, Trụ ăn. Đó là chuyện ngày trước. Ai biết được từ khi Bàn Cổ khai thiên lập địa, người vẫn ăn thịt người, cho đến con Dịch Nha, và từ con Dịch Nha cho đến ông Từ Tích Lâm(9) rồi từ ông Từ Tích Lâm cho đến cái anh gì bên thôn Lang Sói! Năm ngoái, trên tỉnh có mấy tên phạm nhân bị chém, còn có người mắc bệnh lao lấy bánh bao chấm máu liếm(10).
Đứa em gái mình bị ông anh ăn thịt, mẹ có biết thế hay không, mình làm sao hiểu được! 
Nghĩ có lẽ mẹ cũng biết. Chẳng qua khi khóc, mẹ không nói ra đó thôi. Chắc cũng cho là phải. Còn nhớ hồi lên bốn lên năm, mình đang ngồi hóng mát trước nhà, nghe ông anh nói rằng: Cha mẹ ốm đau, con phải cắt một miếng thịt, nấu chín, dâng cho cha mẹ, mới là có hiếu. Mẹ cũng không cãi lại. Ăn được một miếng thì tất nhiên có thể ăn cả con người. Nhưng bây giờ nhớ lại thì hôm ấy, nghe mẹ khóc, thương tâm quá đi mất! Thật là một chuyện lạ lùng!

XII

Không thể nghĩ được nữa.
Bây giờ mới biết mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”(hết trích)

Lỗ Tấn mang trong mình cả một nước Trung Hoa cổ hủ và tàn ác, hèn hạ và dối trá, nghèo đói và thất học trong cơn mê ngủ ảo tưởng về mình đang bị các đế quốc xâu xé. Ông sinh ra trong cuối thời Thanh mạt, từng chứng kiến ông nội mình bị vua Quang Tự ra lệnh xử tử hình vì tội hối lộ trong trường thi.
Khi nhìn thấy trong phim cảnh người Nhật chém đầu một người Trung Hoa mà dân Trung Hoa lại hí hửng chen nhau xem cảnh ô nhục đó, Lỗ Tấn bèn bỏ giở ngành y ông đang học tại Tokio, về nước dùng ngòi bút cứu nước. Ngay khi còn học tại Nhật, ông đã tham gia “Quang phục hội” là hội của những người sau này tham gia cách mạng Tân Hợi ( 1911) lật đổ nhà Thanh tạo ra Trung Hoa Dân quốc.
Lỗ Tấn cho rằng căn bệnh trầm kha của Trung Hoa là căn bệnh tinh thần, căn bệnh ảo tưởng, mê ngủ kinh niên, phải chữa bằng ngòi bút chứ không thể chữa bằng dao kéo hay ống chích y khoa. Liệu Lỗ Tấn có thể chữa nổi căn bệnh ung thư tinh thần của nước Trung Hoa lên cơn thèm thịt đồng loại đang trong giai đoạn ung thư cuối cùng này chăng ?
Ông nhìn thấy nước Trung Hoa chính là một con bệnh điên đang bị giam nơi nhà tù có tên là lịch sử trong ám ảnh bị thời đại ăn thịt, như suốt bốn nghìn năm hội chứng ăn thịt nhau phải chăng là nghiệp chướng Trung Hoa ? “Nhật ký người điên” là tác phẩm đầu tay viết năm 1918 lại cũng chính là một kiệt tác của Lỗ Tấn.
Ông nhìn thấy nước Trung Hoa, dân Trung Hoa trong số phận của chú AQ khờ khạo, ngu dốt, khôn lỏi, cả tin, ấm ớ dễ bị lừa, ảo tưởng, tự huyễn hoặc mình, tự lừa mình bằng phép thắng lợi tinh thần luôn luôn là miếng mồi ngon cho các triều đại, cho các thể chế chính trị trên đất nước rồng điên này ăn thịt.
Một anh nông dân điển hình AQ vừa đói, vừa dốt, vừa hèn hạ khôn vặt, vừa ảo tưởng vừa rất thiêu thân, dễ bị
kích động, ấm ớ, mơ ngủ…sao có thể làm cách mạng? Chẳng qua cũng chỉ là thứ cách mạng a dua, thứ cách mạng súc vật. Hàng tỉ anh AQ này chỉ là phương tiện cho bọn cai chính trị, bọn lãnh tụ buôn chính trị, buôn cách mạng lợi dụng tính cả tin ngu xuẩn, tính thiêu thân khi bị kích động, bị bơm nước đường của AQ, để rồi cuối cùng chú và các chú thành nạn nhân của cách mạng.
Thiên tài Lỗ Tấn bằng truyện “AQ chính truyện” đã tiên đoán số phận bi kịch của hàng trăm triệu các chú nông dân thất học, đói rách, tự dối lừa mình và bị bọn cai đầu dài cách mạng lừa dối, dụ dỗ đi tìm thiên đường ảo tưởng; để rồi anh em nhà AQ bị cuộc cách mạng cộng sản tàn bạo nhất trong lịch sử bốn nghìn năm ăn thịt người của nước Trung Hoa giết hoặc bị chết đói ngót trăm triệu nhân mạng trong thời cải cách ruộng đất, thời hợp tác hóa, thời đại nhảy vọt, thời cách mạng văn hóa (cách mạng phản văn hóa, diệt văn hóa mới đúng).
Tác phẩm “AQ chính truyện” là kiệt tác hàng đầu của Lỗ Tấn được in trong tập truyện “Gào thét” ( 1923). Năm 1926, tập truyện lừng danh của Lỗ Tấn có tên là “Bàng Hoàng” ra đời đưa ông lên vị trí số một của văn đàn Trung Hoa về thể loại truyện ngắn. Ngoài ra, Lỗ Tấn còn xuất bản thêm bảy tập tạp văn kiệt xuất.
Viết truyện ngắn “Thuốc” kể lại chuyện bài thuốc gia truyền kinh tởm chữa bệnh lao của người Trung Hoa bằng cách ăn bánh bao chấm máu tử tội bị chém đầu. Các sách giáo khoa văn từ phổ thông lên đại học của Trung cộng và Việt cộng dạy về “Thuốc” rằng: Lỗ Tấn lên án chế độ phong kiến giữ nhiều hủ tục man rợ, chủ trương ngu dân để dễ cai trị.
Không, chế độ phong kiến Trung Hoa mấy nghìn năm không hề chủ trương ngu dân mà luôn khuyến học, trọng kẻ sĩ: “nhất sĩ nhì nông”, “nhân bất học bất tri lý”…
Trong lịch sử nhân loại, chỉ những người cộng sản mới chủ trương ngu dân để dễ cai trị bằng cách diệt trí thức: “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”, coi trí thức không bằng cục phân (câu nói của Lê Nin được Mao nhắc lại”
Viết truyện “Thuốc”, Lỗ Tấn công bố một tư tưởng sâu sắc rằng máu (tức cách mạng bạo lực “súng đẻ ra chính quyền” của Mao) mãi mãi không thể là phương thuốc chữa nổi con bệnh Trung Hoa, không cứu nổi nước Trung Hoa chìm trong cơn mê ảo tưởng, lạc hậu, nghèo hèn. Mao đã vay máu của hàng trăm triệu chú AQ, chắc chắn chỉ có thể trả bằng máu…Và quả thực, lời tiên tri bằng văn học của Lỗ Tấn rất chính xác: Mao Trạch Đông đã tắm máu nước Trung Hoa không phải chỉ một lần. Mao còn tìm cách tắm máu các dân tộc khác bằng món bánh bao chấm máu người có tên là “tư tưởng Mao Trạch Đông”…
Trước hết, phải khẳng định một sự thực, rằng Lỗ Tấn chưa bao giờ là một người cộng sản, mặc dù ông từng là bạn thân một nhà văn, một lãnh tụ cộng sản Trung Hoa là Cù Thu Bạch (bị Quốc Dân đảng xử bắn năm 1935). Ông từng cùng với Cù tiên sinh lập ra phong trào Tả liên – các nhà văn cánh tả. Lỗ Tấn mãi mãi là một người quốc gia, yêu nước Trung Hoa của người nghèo khổ bị cả bốn nghìn năm quan quyền bần cùng hóa, AQ hóa…
Chính là Mao Trạch Đông đã “vơ  vào”, đã lôi tên tuổi kiểu nhận vơ ông vào phong trào cộng sản của mình sau khi ông chết năm 1936, để gọi ông là nhà văn vô sản số một Trung Hoa, là tấm gương cách mạng Trung Hoa, coi ông như là Goocki của Trung quốc.
Từ năm 1949 Trung Quốc đã cho dạy văn chương Lỗ Tấn trong nhà trường, từ năm 1954 ở Việt Nam cũng dạy học về Lỗ Tấn y chang Trung Quốc, đều dùng lăng kính cộng sản để soi vào văn Lỗ Tấn, biến ông thành công cụ tuyên truyền cho đảng cộng sản chính là công cuộc giết chết  văn tài Lỗ Tấn.
Giả sử trời cho Lỗ Tấn sống thọ đến U 90, thì năm 1966, năm Mao làm cách mạng văn hóa, chắc chắn Lỗ Tấn đã phải bị đấu tố tới chết hoặc cùng đường phải tự tử như Lão Xá mà thôi.
Suốt cả đời, Lỗ Tấn luôn chống chủ trương ngu dân của những kẻ nhân danh cách mạng, như ông viết trong lời tựa tập truyện “ Gào thét”(1923), như sau:
 “Dân mà còn ngu muội, hèn nhát thì dù thân thể có khỏe mạnh, cường tráng chăng nữa, cũng chỉ có thể làm thứ người mà người đưa ta đưa ra chém đầu thị chúng và làm thứ người đứng xem cuộc thị chúng vô vị như thế kia mà thôi.. Cho nên, điều chúng ta cần phải làm trước là biến đổi tinh thần họ, và theo tôi hồi đó, thì muốn biến đổi tinh thần họ, tất nhiên không gì bằng dùng văn nghệ…” (Tựa viết lấy cho tập Gào thét, Trương Chính dịch)
Tinh thần ngạo nghễ nhưng hiền dịu, nhu mì của Lỗ Tấn chừng như giấu ẩn trong câu thơ tuyệt vời này của ông :

Hoành mi lãnh đối thiên phu chi
Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu.

Xin tạm dịch là:

Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ
Cúi đầu làm ngự các nhi đồng.

Lỗ Tấn một bác sĩ chữa bệnh tinh thần cho nước Trung Hoa rất tài giỏi, gọi tên căn bệnh ấy là bệnh mê ăn thịt người, bệnh ảo tưởng cho cái ngu của mình là tài giỏi, cho cái ấm ớ của mình là minh triết, cho cái hèn hạ của mình là anh hùng, cho cái tàn ác vô song của mình là thiện căn…Nhưng căn bệnh tinh thần của đời mình, Lỗ Tấn chừng như không chữa nổi.
Một người có tham gia vừa trực tiếp vừa gián tiếp vào cuộc cách mạng Tân Hợi, xóa bỏ mấy nghìn năm phong kiến, trao nước Trung Hoa vào tay nhân dân gọi là dân quốc, thế mà Lỗ Tấn vẫn còn bị hủ tục cha mẹ đặt đâu con ngồi đó hành hạ một đời. Đang du học tại Nhật thì mẹ ông là Lỗ Thụy gọi về cưới vợ. Cuộc hôn nhân không có tình yêu này là bi kịch cả đời ông.
Đêm tân hôn ông mới biết mặt cô dâu Chu An là một phụ nữa xấu, lại mù chữ nên suốt cả đêm động phòng hoa chúc, ông quyết không động phòng, thức đến sáng đọc sách. Và cả đời ông cho đến chết vẫn không hề động phòng với bà vợ lấy do mẹ ông chọn. Cuộc hôn nhân này đã là nấm mồ chôn bà ChuAn ngay trên cõi dương thế. Và tâm hồn ông chừng cũng bị chôn sống trong nỗi đau khổ cô đơn, khi nhìn thấy sự bất hạnh ghê gớm của bà vợ ChuAn bị chữ hiếu cực đoan của mình giết chết ngay trong cõi sống…
May là cô sinh viên của ông: Hứa Quảng Bình đã đến yêu ông và trở thành vợ hai của ông, cho ông một đứa con trai nối dõi.
Bi kịch từ nhau của người em ruột Chu Tác Nhân (cũng là một nhà văn, một giáo sư đại học) vì chuyện không đâu do cô vợ ngươi Nhật của ông em ghét anh chồng, vu cho Lỗ Tấn rình xem trộm em dâu tắm, đã trở thành nỗi đau lớn trong tâm hồn Lỗ Tấn, cùng với nỗi đau không một lần ân ái với bà vợ cả do không có tình yêu, khiến ông sinh bệnh mà chết sớm lúc 55 tuổi.
Sau 13 năm Lỗ Tấn qua đời, nước Trung Hoa đã rơi vào tay bạo chúa Mao Trạch Đông. Mao nhất quyết dùng máu, hơn nữa dùng cả biển máu chữa căn bệnh Trung Hoa bằng mấy cuộc tắm máu sau: năm 1949 sau chiến thắng do cuộc tranh hùng Mao-Tưởng, Mao đã tắm máu hàng triệu đảng viên Quốc Dân đảng, rồi cuộc tắm máu cải cách ruộng đất, cuộc đại chết đói do phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đại chết đói trong cuộc đại nhảy vọt, cuộc đại tắm máu 1966 cách mạng văn hóa…
Chưa có thời kỳ nào trong lịch sử Trung Hoa mà cái ác, cái xấu, cái đểu cáng dối lừa lại được tôn vinh đến thế. Chưa bao giờ máu Trung Hoa lại đổ nhiều đến thế, hội chứng ăn thịt người lại trở thành kinh khủng như dưới thời Mao đến thế. Xin quý độc giả xem hai đoạn trích dưới đây :
 “Ngày 27-5-2012, Tân Hoa xã đưa tin, công an đã bắt Trương Vĩnh Minh, 56 tuổi, người thôn Nam Môn, thị trấn Tấn Thành, huyện Tân Ninh, tỉnh Vân Nam vì bị cáo buộc giết người hàng trăm người để ăn thịt và lấy thịt người giả làm thịt đà điểu đưa ra chợ bán nhiều năm.
Năm 1992, vợ chồng ký giả Nicholas D.Kristof và Sheryl Wudunn của tờ New York Times tìm được một số hồ sơ tiết lộ chi tiết về những vụ ăn thịt người tập thể trong giai đoạn Đại cách mạng văn hóa tại một số khu vực ở tỉnh Quảng Tây hồi cuối thập niên 60.
Theo những tài liệu kể trên, đã có ít nhất 137 người đã bị ăn thịt – mỗi nạn nhân bị cả chục người cùng ăn. Hầu hết những người liên quan đến việc ăn thịt người tại tỉnh Quảng Tây chỉ bị phạt nhẹ sau khi kết thúc Đại cách mạng văn hóa.
Theo cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” của tác giả Tân Tử Lăng: Trong tình cảnh này xuất hiện nạn ăn thịt người ở tỉnh Tứ Xuyên và nhiều nơi khác – khi chôn người chết chỉ vùi sơ sài, đợi đến tối bới lên lấy thịt ăn, hoặc tang chủ đã lóc thịt thân nhân trước khi mai táng.
Tàn nhẫn nhất là nạn ăn thịt trẻ con ở Đội sản xuất số 1, Đại đội 5, Công xã Đông Dương, huyện Sùng Khánh, khu Ôn Giang, tỉnh Tứ Xuyên.
Đội sản xuất này có 82 hộ, 491 nhân khẩu, chỉ trong 1 năm (từ tháng 12-1959 đến tháng 12-1960) đã có 48 bé gái (từ 7 tuổi trở xuống) bị người lớn làm thịt và 83% số gia đình ở đội này từng ăn thịt người.
Kế toán Vương Giải Phóng là người đầu tiên phát hiện tình trạng ăn thịt trẻ con bởi khi đó tuy nhà ăn tập thể đã ngừng hoạt động trên thực tế vì không còn lương thực, nhưng lệnh cấm các gia đình nấu nướng vẫn còn hiệu lực, bếp nhà ai nổi lửa là phạm pháp.Các gia đình đổi con cho nhau để giết thịt chúng cho bớt đau lòng.
Đêm ấy, đến lượt Vương Giải Phóng cùng 2 người khác đi tuần và họ phát hiện một dải khói mỏng tỏa ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa. Khi ập vào nhà Mạc Nhị Oa có 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, còn lại 6 người, nhưng khi đó chỉ thấy có 5 bởi bé gái Thụ Tài 3 tuổi vừa bị giết, xẻ lấy thịt và đang luộc trong nồi.
Trong lúc tổ tuần tra tìm cây trói can phạm, Mạc Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài, ăn ngấu nghiến. Lãnh đạo địa phương sau khi cân nhắc đã quyết định ỉm vụ này đi vì sợ bị kỷ luật – sau 1 ngày bị giam giữ, cả nhà Mạc Nhị Oa được phóng thích.
Những tưởng các câu chuyện kể trên chỉ có thể diễn ra trong thời kỳ “đói kém”, nhưng sự kiện Trương Vĩnh Minh thực sự khiến dư luận bị sốc bởi bởi lẽ xã hội Trung Quốc ngày nay không làm gì có chuyện đói kém đến thế.
Ngày 225-2012, Vince Weiguang Li, người nhập cư gốc Trung Quốc không bị kết án cho dù đã chặt đầu và ăn thịt Tim McLean trên xe buýt Greyhound ở Canada trước sự chứng kiến của hành khách hôm 30-7-2008 bởi ông ta bị coi mắc bệnh tâm thần phân liệt chứng hoang tưởng.”
Báo chí Hàn Quốc đưa tin từ tháng 8.2011 hải quan Hàn Quốc đã ngăn chặn tới 35 vụ buôn lậu thuốc làm từ thịt trẻ em tán bột và cho rằng chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Họ đã tịch thu 17.451 viên được cất giấu trong hành lý của du khách hoặc chuyển qua đường bưu điện. Nhiều người cho rằng, loại thuốc này có khả năng trị bách bệnh và tăng cường sinh lực. Cơ quan Giám định pháp y quốc gia Hàn Quốc đã kiểm định, cho thấy 99,7% thành phần trong viên thuốc tương ứng với ADN của người.
Có nhiều thông tin khác nhau về thứ thuốc “thịt người” này. Chẳng hạn có ý kiến cho rằng đó chỉ là những mẩu nhau thai được lấy từ các bệnh viện phụ sản, mà theo y học cổ truyền, đó cũng là những vị thuốc chữa bệnh. Nhưng một đài truyền hình lớn của Hàn Quốc đã mất công điều tra công nghệ làm thuốc kinh hoàng này. Những người trực tiếp chế thuốc dường như không có cảm giác ghê tay. Họ cắt nhỏ từng xác thai nhi ra thành từng mảnh, sau đó đưa vào lò vi sóng sấy khô. Khi những lớp da và thịt đã khô cong, những miếng nhỏ này được đưa ra, bỏ vào máy nghiền, hoặc máy đập để tán nhỏ thành bột. Sau đó, chất bột này được trộn đều với các loại thảo dược theo tỷ lệ vừa đủ để đóng thành viên nang hòng che giấu thành phần thực sự của nó với mục đích đánh lừa các nhà điều tra y tế và các nhân viên hải quan…”
Lỗ Tấn hình như đã truyền lại cho hậu duệ Mạc Ngôn ám ảnh một nền văn minh nghiện ăn thịt người suốt bốn nghìn năm? Trong các tác phẩm của Mạc Ngôn có thấy nhân vật nào giết thịt người  ăn đâu? Nhầm!
Chả lẽ con người chỉ có thể xác mà không có tâm hồn ru? Này nhé, các nhân vật của Mạc Ngôn hầu như đã bị bọn quan quyền, bọn buôn cách mạng,bọn đầu lậu chính trị ăn thịt hết linh hồn họ là gì?
Cứ nhìn các bà các chị trong “ Mông to vú nở” bị cán bộ nông trang buộc rọ vào miệng khi bóc vỏ đậu để họ khỏi ăn hạt đậu sống vì đói, thì họ có khác gì con vật đâu ? Những người đàn bà này và hàng ngót tỉ chú AQ tân thời hình như đã bị tà thuyết của các bác ăn thịt hết linh hồn, khiến họ sống y như súc vật đó sao?
Xin hãy đọc dòng văn học vết thương được mở đầu bằng truyện “Chủ nhiệm lớp” (1977) của nhà văn Tứ Xuyên Lưu Tâm Vũ, các tác giả kế tiếp: Lý Bích Hoa, Tông Phác, Trương Khiết, Trần Thế Cưu, Trịnh Nghĩa, Vương Á Bình, Vương Tống Hán, Ngô Cường, Lục Văn Phu…Rồi đến các tác phẩm của Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Trương Hiền Lượng, Vương Mông…Hầu hết các nhân vật bi kịch của dòng văn học vết thương nơi các tác giả trên đều đã bị tà thuyết của bác Mao ăn thịt hết linh hồn…
Văn học mô tả con người ăn thịt thân xác nhau đã kinh khiếp như Lỗ Tấn đã viết; chẳng lẽ việc con người bị kẻ khác ăn thịt hết linh hồn của mình như nhân vật của Mạc Ngôn lại ít kinh hãi hơn sao ?
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin nhắc các vị cầm quyền Việt Nam rằng, đừng quên chuyện Trương Phụ tướng nhà Minh sang cướp nước ta vẫn thích ăn thịt người dân Việt, đã tiếp sứ thần/
Nguyễn Biểu thay mặt vua hậu Trần là Trùng Quang đến gặp tướng nhà Minh Trương Phụ cầu hòa. Trương Phụ đãi sứ Việt ngay trên đất Việt món đầu người luộc để thử gan tướng Việt nhà hậu Trần có dám xơi thịt người như chúng hay không? Xin trích từ điển mạng Wikipedia mục “Nguyễn Biểu”:
“Ông đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) cuối thời Trần, làm quan đến chức Điện Tiền Thái sử (Ngự Sử). Khi quân nhà Minh xâm lược Đại Ngu, ông đã phò vua Trần Trùng Quang Đế (1409-1413) tổ chức cuộc kháng chiến.
Năm 1413, quân Minh đánh vào Nghệ An, vua Trùng Quang Đế chạy vào Hóa Châu, sai ông đi sứ giảng hoà. Tướng giặc là  Trương Phụ dọn cỗ đầu người để thử lòng. Nguyễn Biểu móc mắt ăn, rồi làm thơ đòi quân Minh công nhận chủ quyền Đại Việt, ông tức giận mắng Trương Phụ: “Trong bụng thì mưu đánh lấy nước, bên ngoài giả làm quân nhân nghĩa. Đã hứa lập con cháu nhà Trần, lại đặt quận huyện, không chỉ cướp lấy vàng bạc châu báu, lại còn giết hại nhân dân, thực là giặc tàn ngược”.  Trương Phụ trả thù bằng cách buộc ông vào cột cầu sông Lam để cho nước dâng lên ngập chết. Tương truyền ở dưới chân cầu ông dùng móng tay vạch vào thân cầu tám chữ: “Thất nguyệt, thập nhất nhật Nguyễn Biểu tử” (Nguyễn Biểu tử tiết ngày 11 tháng 7).
Vua Trùng Quang Đế cảm kích của với khí tiết đáng trân trọng của ông đã làm bài thơ tiễn Nguyễn Biểu đi sứ và bài văn tế Nguyễn Biểu. Cả hai bài này đều được lưu truyền đời sau.”(hết trích)
Than ôi, vòng kim cô 16 chữ vàng và 4 tốt mà hậu duệ bác Mao ban cho hậu duệ bác Hồ liệu có cứu nổi hội chứng ăn thịt người Trung Hoa, bắt đầu bằng cuộc ăn thịt 16.000 km2 mặt biển của ta và hàng ngàn km2 đất liền Việt Nam, lại toan ăn thịt hết linh hồn các bác lãnh đạo nước Việt ta chăng?
Xin các vị nhớ, rằng hàng tỉ chú AQ nước họ , mà họ còn xơi thịt cả thân xác lẫn tâm hồn, lẽ nào họ lại đi thương bọn ngoại tộc mà họ từng khinh bỉ gọi là man di?
Sài Gòn ngày 19-10-2012 (ngày giỗ thứ 76 văn hào Lỗ Tấn)
Trần Mạnh Hảo
Tác giả gửi cho NTT  blog
This entry was posted on 19/10/2012, in Báo chí.

Vua Tự Đức bảo vệ dân lành bị cường hào cướp đất và quan trù dập

Bùi Xuân Đính

Thời phong kiến, cách quản lý xã hội của Nhà nước quan liêu không tránh khỏi tình trạng nhiều người dân và cả một số quan lại bị oan ức. Để góp phần “giải oan” cho dân, Nhà nước các thời đã có những biện pháp cho dân được kêu oan.
– Năm Nhâm Thìn, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo (1052), Vua Lý Nhân Tông cho đặt một quả chuông lớn ở sân rồng để ai bị oan ức điều gì được đến đánh chuông. Vua ra nhận đơn và xét xử.
– Năm Mậu Dần, niên hiệu Đại Định (1158), theo lời tâu của Nguyễn Quốc vừa đi sứ ở nước Tống về, Vua Lý Anh Tông cho đặt một cái hòm ở sân rồng để ai muốn bày tỏ việc gì thì bỏ thư vào hòm ấy. Chỉ trong một tháng, thư kêu oan đã đầy hòm. Tuy nhiên, trong số thư ấy có cả thư tố cáo quan đại thần Đỗ Anh Vũ lộng quyền, nên sau đó, hòm thư bị bỏ.

– Năm Ất Tỵ, niên hiệu Bảo Thái (1725), Chúa Trịnh Cương cho yết bảng ở các lỵ sở, ngã ba đường để dân chúng phản ánh điều hay dở, thiện ác của các quan trong địa hạt và nỗi oan của mình.
– Năm Nhâm Tý, niên hiệu Vĩnh Khánh (1732), Chúa Trịnh Giang lại cho đặt hòm ở phủ chúa để nhận đơn kêu oan của dân.
– Năm Đinh Mão, niên hiệu Cảnh Hưng (1747), Chúa Trịnh Doanh cho đặt chuông, mõ ở cổng phủ đường để người nào thấy mình có tài, muốn tự tiến cử thì đánh chuông và người bị oan ức thì đánh mõ kêu lên. Các khiếu nại phải được ghi thành văn bản và phong kín để chuyển lên phủ chúa xem xét.
– Năm Tân Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng (1751), Chúa Trịnh cho phép nhân dân cả nước được phép viết thư trình bày nỗi oan ức, dán kín dâng lên.
– Ở Đàng Trong, vào năm Mậu Thân (1788), Chúa Nguyễn Ánh cũng cho đặt một hòm ở cửa phủ chúa để ai có oan khuất hay bị người khác hãm hại thì viết đơn trình bày rõ sự việc, ghi rõ họ tên quê quán bỏ vào hòm để tiện tra xét, người nào bỏ thư nặc danh, vu tội cho người khác thì bị trị tội nặng.
– Năm Quý Hợi (1803), Vua Gia Long cho dân từ các trấn Nghệ An ra Bắc ai có oan khuất thì đến công đường sở tại tâu bày. Đơn thư kêu oan được chuyển lên vua và  văn thần xét đoán, kẻ nào vu cáo, thêu dệt thì bị tội. Năm sau (Giáp Tý, 1804), theo lời tâu của các quan trấn Bắc Thành, Vua Gia Long cho dựng nhà coi việc ở cửa Nam thành Thăng Long, cứ năm ngày một lần, họp quan lại để bàn vịêc; ai có việc gì bị oan ức đã qua ba nha trấn, phủ, huyện mà chưa được phục tình thì cho đầu đơn để xét cho rõ lý.
Từ thời Vua Minh Mạng (1820 – 1841), tại Ty Tam pháp (cơ quan pháp luật cao nhất của triều đình – gồm ba cơ quan tương đương Viện Kiểm sát, Tòa án và Bộ Tư pháp hiện nay) có đặt một trống Đăng văn, vào các ngày 6, 16, và 26 hàng tháng cho phép ai có oan ức được đến đánh trống kêu oan. Quan Pháp ty ra nhận đơn và xét xử. Còn các ngày khác, ai tự tiện đánh trống thì coi như phạm tội, dù có bị oan ức đến mấy.
Song một ngày, không phải là ngày tiếp dân mà bỗng nhiên tại Ty Tam pháp vang lên những tiếng trống đánh gấp đến “nẫu lòng”. Viên quan trực của Ty vội chạy ra, thấy một người phụ nữ nước mắt đầm đìa. Theo luật, người phụ nữ đó bị trói và xét hỏi. Bà ta khai tên là Nguyễn Thị Tồn – vợ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1) vừa chèo thuyền từ Nam Bộ ra để xin minh oan cho chồng. Đơn kêu oan của bà được đưa ngay lên Vua Tự Đức.
Vua đọc đơn, thấy lời kêu oan rất thống thiết, nên phê ngay vào đơn và lệnh cho Ty Tam pháp điều tra ngay và xét nghị. Điều mà bà Nguyễn Thị Tồn kêu oan lên triều đình là chồng bà, ông Bùi Hữu Nghĩa là Tri phủ phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa, vốn là người cương trực, đã thẳng tay trừng trị bọn hào cường ở địa phương ức hiếp dân lành, nên bị chúng trả thù. Bọn cường hào đã ỷ thế vào viên Tổng đốc Biên Hòa để hòng cướp của những người dân nghèo  một con lạch đã được Vua Gia Long cho phép khai thác, không phải nộp thuế từ khi Vua mới lên ngôi.
Bùi Hữu Nghĩa đã đứng về phía những người dân nghèo. Giữa những người dân và bọn cường hào đã xảy ra xô xát dẫn đến chết người. Một số người bị bắt vì quá lo sợ nên sau đó đã khai rằng, sở dĩ có chuyện tranh chấp dẫn đến chết người đó là do Tri phủ Bùi Hữu Nghĩa. Bọn cường hào đã xúi bẩy viên Tổng đốc sai lính đóng gông Bùi Hữu Nghĩa và cho giải ra Kinh đô Huế; đồng thời làm Sớ khép ông vào tội “xui dân làm loạn dẫn đến chết người”.
Trước nỗi oan ức của chồng, bà Nguyễn Thị Tồn không quản “thân gái dặm trường”, chèo thuyền từ Biên Hòa ra Huế xin được minh xét cho chồng. Mặc dù không phải ngày trực của Ty Tam pháp, bà vẫn can đảm đến Ty để “đánh trống Đăng Văn”. Sau đó, sự thật vụ việc được làm sáng tỏ, Vua Tự Đức đã phê “Tha tội cho Bùi Hữu Nghĩa, nhưng phải tiền quân hiệu lực, lập công chuộc tội”.; đồng thời, buộc bọn cường hào địa phương phải để yên cho dân cày cấy trên  đất mà Vua Gia Long đã cho.
Lời bàn:
      Tiếng trống Đăng Văn thời  Nguyễn, tiếng chuông, mõ, treo bảng, đặt hòm nhận đơn… thời Lê – Trịnh, tiếng chuông sân rồng thời Lý v. v. là những hình thức thích hợp để thần dân và quan lại bị oan ức “kêu trời”, phải chăng vẫn là những điều có giá trị tham khảo trong việc giải quyết đơn thư khiếu tố của nhân dân trong xã hội ta ngày nay.
(1) Bùi Hữu Nghĩa : người làng Bình Thủy, huyện Vĩnh Định, huyện này giữa thế kỷ XIX thuộc tỉnh An Giang, nay chưa rõ là huyện nào, thuộc tỉnh nào. Ông đỗ đầu khoa thi Hương năm Ất Mùi, đời Vua Minh Mạng (1835), tại trường thi Gia Định.
* Bài đăng trong tập sách Những câu chuyện pháp luật thời phong kiến (sách riêng của tác giả), Nxb. Tư pháp, 2005. Bài có tiêu đề “Những tiếng chuông, tiếng trống kêu oan”, nhân vụ Tiên Lãng, tác giả đổi lại tiêu đề như trên để mọi người cùng suy ngẫm.
Nguồn: Tễu

Vua Tự Đức bảo vệ dân lành bị cường hào cướp đất và quan trù dập

Vua Tự Đức bảo vệ dân lành bị cường hào cướp đất và quan trù dập

Bùi Xuân Đính

.

Thời phong kiến, cách quản lý xã hội của Nhà nước quan liêu không tránh khỏi tình trạng nhiều người dân và cả một số quan lại bị oan ức. Để góp phần “giải oan” cho dân, Nhà nước các thời đã có những biện pháp cho dân được kêu oan.

– Năm Nhâm Thìn, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo (1052), Vua Lý Nhân Tông cho đặt một quả chuông lớn ở sân rồng để ai bị oan ức điều gì được đến đánh chuông. Vua ra nhận đơn và xét xử. Tiếp tục đọc