Archive | Tháng Mười Một 2012

Phòng tranh quan niệm, với Vương Tử Lâm

Nguyễn Hoàng Đức
Cái nhìn đầu tiên, như người ta nói, hoạ sĩ Vương Tử lâm đã trưng bày một phòng tranh có lẽ khác hẳn tiền lệ. Tranh xưa nay thường vuông hay tròn, và nó được treo trên tường như một nguyên tắc thường hằng, rằng: cái gì tròn thì lăn cái gì vuông thìđứng. Những bánh xe lăn trên đường thì buộc phải tròn còn những hình vuông xếp ở bất kỳ đâu thì nó được tại vị. Tranh là thứ được định vị ở trên tường thì nó phải vuông hay hình chữ nhật. Nhưng Vương Tử Lâm đã làm một triển lãm khác hẳn là treo tranh tròn ở trên tường. Tròn từ đầu đến cuối, hầu hết triển lãm của ông là tranh tròn (Trừ một vài ngoại lệ lẻ tẻ), đó là một hình thức tròn thuần khiết, tròn một cách có chủ đích, tròn một cách phương tiện và cứu cánh.

Phòng tranh tạo ra nhiều tranh luận rằng Vương Tử Lâm vẽ cái gì, sự khác lạ đó là một sự cách tân hay cũng chỉ là một thứ “Chơi ngông”. Theo tôi, ngót 20 năm theo đuổi, Vương Tử Lâm đã kiên gan đi theo con đường ý thức hội hoạ của mình. Mọi việc ở đời, lập trình ý thức, sáng tạo cùng ý thức hay ý thức về ý thức luôn luôn là điều đầu tiên, cũng là khó nhất. Nói giản dị như người Việt “Tư tưởng không thông vác bình tông không nổi”. Một bức tranh cụ thể giống một “Bình tông” vậy. Một khi ý thức đã hoàn thành việc suy tư của nó thì tác phẩm chỉ là thứ phái sinh, tuỳ thuộc tất yếu.
Tôi cho rằng nếu Vương Tử Lâm chỉ nghĩ vu vơ, vẽ bằng “Miệng” thì chẳng có gì để nói. Triết gia Aristote có nói “Tất cả mọi nghệ thuật đang trên đường hiện diện”. Có nghĩa là: Câu thơ phải được viết lên, âm nhạc được ghi trên giấy và hội hoạ phải là mầu được vẽ lên… Vương Tử Lâm đã đam mê chìm đắm, có cả mặc cảm run rẩy lo sợ thất bại về một tầm nhìn thiếu hụt nào đó có thể trở thành một kẻ lỡ tầu… Và nếu anh lỡ tầu thật thì chẳng có gì để nói.
Nhưng may mắn thay, đáng chào mừng thay Vương Tử Lâm đã hoàn tất được ý niệm của mình trên những bức vẽ. Ở đó nó thể hiện tất cả tinh thần thuần khiết, sự tư duy chiều sâu – có hành trình, chất liệu và bút pháp kiên nhẫn để bò theo con đường mình đã chọn… và tất cả những gì mang phẩm tính của hội hoạ khá chín muồi của anh cuối cùng đã chạm đích nhà ga – là triển lãm không hề nhỏ này (Về mặt ý tưởng – là không thể xem thường).
Trong khoa học và nghệ thuật hiện đại đã xuất hiện một bộ môn “Tư tưởng mới”, đó là khoa học lý thuyết và nghệ thuật lý thuyết. Người ta không tính một nhà bác học sai hay đúng bởi lý thuyết, mà chỉ tính lý thuyết đó đã khai triển gì cho trí não của con người. Vương Tử Lâm đã làm được một điều gì cho hội hoạ có thể không bằng nhưng na ná như thế. Theo tôi hội hoạ của anh có thể đẹp hay xấu tuỳ người thẩm định, nhưng tôi cho rằng: riêng về mặt hội hoạ ý tưởng anh xứng đáng là người đi tiên phong hàng đầu trong hội hoạ Việt Nam, bởi vì những bức tranh của anh hướng tới quan niệm và được vẽ bằng quan niệm.
Xin chúc mừng anh!
Tác giả gửi cho NTT blog
This entry was posted on 29/11/2012, in Báo chí.

Vàng, đô la và đào tẩu

Lê thị Công Nhân

VÀNG
Cái gì quý người ta thường ví như vàng. Đây là kiểu ví von truyền thống đã thành một thành ngữ của Việt Nam, và không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn là chung của thế giới. Thậm chí ví von nghĩa bóng người ta cũng dùng đến vàng, như nguyên tắc vàng, ông bạn vàng, khu đất vàng, thời điểm vàng, đám cưới vàng ..v..v.. Còn ở Việt Nam hiện nay vấn đề gì nổi trội vì sự khó khăn, khó đoán biết, liên tục thay đổi thì người ta nói là “nóng như thị trường vàng” hoặc “điên như giá vàng”. Răng lại có cớ sự như rứa ở cái đất nước Việt Nam nghèo nàn lạc hậu này ?
Từ khi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam quyết định mở cửa và cởi trói cho nền kinh tế từ đầu thập niên 90 thế kỷ trước sau gần nửa thế kỷ vừa đóng cửa vừa lấy còng số 8 trói chặt nền kinh tế để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa thì các nhà lãnh đạo vĩ đại của cộng sản hơi choáng váng vì thấy dân vẫn cất giấu được khá nhiều vàng. Lãnh đạo cộng sản tưởng rằng sau những vụ cướp vĩ đại mà họ đã làm như vụ Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản, Cải tạo công thương nghiệp – là những vụ lớn, và vô vàn những vụ nhỏ mang tính chất thường xuyên mà các cấp địa phương, cấp nhỏ hơn đến nay vẫn làm hàng tháng, hàng ngày để cống nạp lên cấp to hơn, thì tưởng rằng vàng trong dân đã được moi gần cạn hết rồi. Ấy vậy mà đến cuối mùa hè năm 2008 khi lạm phát phi mã bộc lộ và thấm thía đến từng người dân để mở đầu cho thời kỳ suy thoái kéo dài đến tận bây giờ thì giá vàng tăng đến 60% chỉ trong vòng 2 tháng từ khoảng 1,8 triệu đồng/chỉ tăng vọt lên 2,9 triệu đồng/chỉ. Thành ngữ “điên như giá vàng” phổ biến từ đấy.
Ngộ nhất là mùa hè năm ấy ở trong tù, tù nhân khố rách chúng tôi cũng bàn tán xôn xao và theo dõi sát sao giá vàng từ sáng mở mắt dậy đến tận đêm có kẻng báo ngủ gõ đinh tai nhức óc, thì giá vàng hôm nay thế nào, lên bao nhiêu rồi cứ gắn chặt vào mồm vào miệng để hỏi nhau, kể cho nhau, buôn dưa lê với nhau. Đến bản tin tài chính trên tivi thì cả phòng im phăng phắc, các đôi tai lừa ve vẩy lắng nghe tin. Tự khắc mà chăm chú tập trung hết chỗ nói!
Tại thời điểm cuối năm 2008 đó việc giá vàng tăng vọt và sau đó không bao giờ hạ xuống nữa có nguyên nhân là do khi ấy hậu quả tai hại của nền kinh tế nội lực yếu, vốn phần lớn là đầu tư nước ngoài còn phần vốn trong nước lại chủ yếu là vốn đối ứng được chuyển từ “giá trị quyền sử dụng đất” góp vào, và nền kinh tế vừa được vu cho là kinh tế thị trường lại vừa được chỉ đạo dẫn dắt theo chủ nghĩa xã hội, có thể hiểu ngắn gọn là kinh tế tư bản kiểu cộng sản. Trong nền kinh tế này, cái phần thị trường lại chính là tư bản kiểu nguyên thủy man rợ mà chính phe cộng sản (Không biết họ có thực học và thực hiểu về kinh tế tư bản không?) luôn vu cho các nước tư bản là như thế: người bóc lột người, tàn phá thiên nhiên, khai thác tận diệt tài nguyên, lừa đảo chộp giật đủ kiểu. Phần định hướng xã hội chủ nghĩa thì là: kiên định quyết tâm bất chấp mọi thủ đoạn đảng cộng sản phải lãnh đạo mọi mặt nền kinh tế tức là tất cả các tổ chức kinh doanh sản xuất đều phải có sự cho phép của đảng cộng sản khi thành lập, khi đang hoạt động và ngay cả khi phá sản.
Ngoài ra, đảng cộng sản còn lãnh đạo tuyệt đối mọi tổ chức kinh doanh của nhà nước và áp đặt tất cả tổ chức kinh tế quốc doanh này phải là chủ đạo. Từ đó trút vô tội vạ vốn từ ngân sách nhà nước do nhân dân còm cõi lầm than đóng thuế vào các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như vào một cái thùng không đáy để các thể loại nhân sự của những tổ chức kinh tế quốc doanh từ tổng giám đốc tới nhân viên bảo vệ đều 100% phải là con cháu người quen của các tầng tầng lớp lớp đảng viên cộng sản làm sếp to, sếp nhỏ của cơ quan ấy mới được vào làm. Cái nền kinh tế như thế, sau 20 năm sung sướng xả hơi vật vả kiếm tiền cho hả, cho bõ để bù lại gần 40 năm bị cùm, bị trói, bị bịt mắt ấy thì đến năm 2008 – như một kết thúc tất yếu, bộc lộ hết bản chất nửa dơi nửa chuột của mình ra và cả nước chính thức bước vào thời kỳ suy thoái thật sự do chính mình gây ra – chứ không do giọng điệu tuyên truyền láo lếu nhảm nhí ra rả đêm ngày là do suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam. Suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam đương nhiên là điều tất yếu, nhưng nó chỉ là một phần mà không phải là nguyên nhân chính khiến nền kinh tế Việt Nam như thế này.
Và khi ấy người dân lại càng tin, càng muốn cất trữ tài sản mà mình làm ra vào một thứ có giá trị bền vững và phổ biến nhất – là vàng. Ngoài ra cần phải nói thêm rằng người Việt Nam từ trước đến giờ vẫn có thói quen cất trữ tài sản vào vàng như vậy. Ấy là do trong lịch sử Việt Nam, có thể nói chưa bao giờ nước ta được lãnh đạo bởi những vị vua sáng suốt tài giỏi thương dân đến mức coi sự thịnh vượng và tiến bộ của dân chúng là thành công, vinh quang và hạnh phúc của người cầm quyền. Có thể nói gần như tất cả những vị vua của Việt Nam trong quá khứ và hiện nay nếu nói điều ấy thật lòng thì cũng chỉ ở mức muốn dân chúng đủ ăn đủ mặc để an phận làm con dân mà thôi.
Đến giữa năm 2011 thì nền kinh tế bắt đầu rơi vào vùng đáy của suy thoái và không ai biết được khi nào sẽ thoát khỏi suy thoái khi mà các dấu hiệu thì rất nhiều người thấy, và cũng nhiều không ít hơn số ấy là dự đoán của các chuyên gia hàng đầu của rất nhiều trường phái học thuật tài chính kinh tế, nhưng tựu trung lại cũng chỉ là vấn đề niềm tin và đạo đức, rằng “Khi nào mọi thứ trở lại/về giá trị thực của nó thì kinh tế sẽ phục hồi.”. Chân lý này thường bị quên trong nhiều trường hợp, và đặc biệt hay bị quên trong lĩnh vực kinh tế. Tất nhiên những lãnh đạo cộng sản chóp bu hoàn toàn nhận thấy rõ điều ấy, thậm chí còn nhận thấy trước dân chúng rất nhiều. Do đó, một mặt họ vẫn tiếp tục ngu dân, mỵ dân bằng những bài tuyên truyền nhảm nhí, một mặc ra sức thu vén tư lợi bất chính bằng việc in tiền khống. Không gì thu lợi được nhiều hơn từ bóc lột và tận thu cùng kiệt sức lực và tài sản của dân.
Và, vàng chính là thứ mà người dân tích lũy nhiều nhất công sức lao động của mình vào để tránh lạm phát ăn mòn tài sản của họ. Nhu cầu chính đáng này là phổ biến và bình thường ở một đất nước mà việc thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt và niềm tin của của người dân vào nền kinh tế và giá trị đồng tiền là rất kém. Do vậy, phải tìm mọi cách để lấy được vàng của dân ra, vì vàng thì chính quyền không sản xuất khống được như là việc in tiền-suy cho cùng cũng chỉ là tờ giấy, mà lại là giấy nội địa, loại giấy có mặt ông Hồ to tướng mà chỉ cần sang tới Thái Lan thôi đã chẳng ai thừa nhận, không còn chút giá trị nào.
Thế là Nghị định 24/2011 ra đời, hiệu lực tháng 5.2012 đến nay mới chỉ 6 tháng mà đã làm thất điên bát đảo thị trường vàng Việt Nam vốn đã không ổn định, thì nay nhờ có chính phủ trứ danh của ông Dũng mà trở nên quái đản dị thường chưa từng thấy. Xin điểm ngắn gọn vài hậu quả của chính sách chống vàng hóa trong giao dịch mua bán và ổn định thị trường vàng của chính quyền cộng sản Việt Nam:
– Hoàn toàn không có bất kỳ một dấu hiệu nào là thành công nhỏ nhoi trong việc chống vàng hóa trong các giao dịch mua bán;
– Hoàn toàn không có bất kỳ dấu hiệu nào là thị trường vàng được ổn định, mà chỉ có:
– Trước thì giá vàng trong nước cao hơn thế giới khoảng 500.000-1.000.000 đồng/lượng giờ thì đã cao hơn 3.000.000 đồng/lượng (*);
– Chỉ trong 5 tháng Ngân hàng nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng từ trong dân (*);
– Thị trường vàng trong nước không còn liên thông với thế giới, tức là không còn thể hiện sự liên quan bình thường với thị trường vàng thế giới, Việt Nam một mình một kiểu không giống ai;
– Nhãn hiệu vàng SJC bỗng dưng-bằng một mệnh lệnh hành chính nhà nước, trở thành thương hiệu vàng quốc gia, và tăng giá một cách kỳ lạ, trở nên kiêu kỳ và khó tính trong cả việc bán đi và mua lại vàng của chính mình sản xuất;
– SJC thu lợi số tiền khổng lồ mà không ai bên ngoài có thể thống kê được. Số lợi khổng lồ không chính đáng này đến từ chênh lệch giá vàng và việc mua rẻ, ép người dân phải bán lại giá rẻ có khi lên tới 500.000 đồng/lượng vàng cũ của chính mình sản xuất ra, với lý do mà bất kỳ một nhân viên thu mua vàng nào của SJC cũng luôn leo lẻo mỗi khi gặp khách đến bán vàng là “Túi chân không bị rách, có hơi ẩm, vàng méo, vàng xước, chữ/hoa văn chỗ nọ chỗ kia không rõ ..v..v.. Bớt 300.000 đồng/500.000 đồng (so với giá niêm yết). Không bán thì thôi.” Tự tin như đinh đóng cột! Tất nhiên nếu khách bán thì số tiền chênh lệch ấy nhân viên trực tiếp mua không “ăn” một mình, SJC cũng không thể “ăn” một mình, mà tất cả bọn họ từ kẻ lãnh đạo ăn trên ngồi tróc đêm ngày ủ mưu bày kế bóc lột dân ra lệnh, đến các đại gia giám đốc quản lý tập đoàn này, còn các nhân viên trực tiếp cấp dưới thì đương nhiên cũng có những phần thưởng theo khoán, theo chỉ tiêu, định mức thu mua.
– Thị trường vàng trở nên quái đản chưa từng thấy với chênh lệch giá giữa nhãn hiệu SJC cao hơn khoảng 5% so với vàng cùng loại của nhãn hiệu khác. Đây là một con số rất lớn đến mức kinh dị chưa từng có đối với mặt hàng đặc biệt này;
– Dân chúng đổ xô đi bán vàng nói chung, và riêng với các nhãn hiệu không phải là SJC;
– Nghị quyết 21/2011 của quốc hội yêu cầu bảo đảm giá vàng trong nước sát với giá vàng thế giới, thành vô nghĩa. Chính phủ hoàn toàn coi thường quốc hội.
..v..v..
Và cuối cùng thì không thể khác những điều như ông nghị Nguyễn Trí Dũng – Nhóm tư vấn chính sách vĩ mô – Ủy ban Kinh tế quốc hội nói “Nhu cầu tích lũy tài sản bằng vàng để tránh lạm phát bào mòn tài sản tích lũy là nhu cầu chính đáng của người dân. Trước kia ngân hàng chưa huy động vàng người dân vẫn tích lũy, nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng.” (Báo Tuổi trẻ, thứ 7, 17.11.2012, page 7)
Vậy là sao? Tiếc là ông Trí Dũng này, nếu tôi đoán không nhầm, lại quá lịch sự không đúng chỗ, khi ông không nói thẳng ra rằng “nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng, chính quyền đừng hòng moi được hết vàng của dân, nhá !”
Giả thuyết của tôi hoàn toàn phù hợp với phát biểu của ông nghị Nguyễn Văn Tuyết – Bà Rịa Vũng Tàu rằng “Thống đốc trả lời khôn cũng tốt nhưng đừng nghĩ là dân không biết gì.”.
Đúng vậy! Có thể dân – trong đó có tôi, chưa biết sự thật là gì (vì được che giấu quá kỹ), chưa biết tốt đẹp, thịnh vượng, văn minh là như thế nào nhưng chắc chắn chúng tôi biết rằng cái hiện tại của đất nước này, của chính quyền cộng sản Việt Nam này là độc tài, là gian dối, là ngu dốt. Vì vậy, mà tận sâu trong lòng người dân Việt Nam giờ đây quá chán ngán tất cả những gì cộng sản nói, bằng chứng là học sinh Việt Nam bây giờ coi môn lịch sử chỉ là môn học nhảm nhí, thậm chí không cần học, thậm chí ngay cả ông bộ trưởng giáo dục Việt Nam còn xưng xưng phát biểu rằng “50% học sinh thi tốt nghiệp trung học môn sử dưới 2 điểm, là bình thường.”
Kết thúc phần Vàng, xin trích 2 phát biểu:
– Ông nghị Trần Du Lịch phát biểu tại phiên chất vấn thống đốc Nguyễn Văn Bình sáng 13.11.2012 “Qua phần trình bày của thống đốc, dường như muốn tiêu diệt thị trường vàng, chứ không muốn bình ổn thị trường vàng.”
– Thống đốc Nguyễn Văn Bình “Sau 6 tháng thực hiện nghị định 24, nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng.” phát biểu cùng buổi sáng hôm ấy tại quốc hội.
Vô cùng sung sướng và mãn nguyện!
ĐÔ LA
Câu chuyện của đô la ở Việt Nam hiện nay cũng thú vị không kém câu chuyện của vàng. Chỉ khác là việc nhà nước thắt chặt việc mua bán ngoại tệ đã có từ rất lâu, nhưng làm thì đì đùng, vì thật ra là không làm nổi, không muốn làm. Chính thế mà nhiều người dân bị mất tiền oan khi đi mua bán ngoại tệ, vừa mất số tiền đem mua, bán, vừa bị phạt thêm một số tiền rất lớn, nên uất ức vô cùng. Giới công an, quản lý thị trường và nhất là các thể loại trinh sát liên ngành chỉ việc thỉnh thoảng phố hợp với nhau đi rình ở các hiệu vàng, các điểm mua bán ngoại tệ tư nhân mà ai cũng biết, rồi thích bắt ai là bắt, hoặc bắt theo chuyên án để vớ được quả “bẫm” mà chia nhau.
Việc thắt chặt mua bán ngoại tệ, mà chủ yếu là đô la khác với vụ quản lý vàng ở trên là chính quyền không thể bỗng dưng chọn một loại ngoại tệ nào để làm đối tượng siết được vì nó có sẵn rồi, chỉ vài loại như thế, như thế, mà mình lại chẳng thể tác động gì vào nó, không in khống được, không làm giả được, cũng không làm nó tăng hay giảm giá trị được, vậy phải làm cách nào đây để thu gom được thật nhiều ngoại tệ, càng nhiều càng tốt. Thế là chính quyền, với công cụ quyền lực trong tay, nghĩ ra ngay những mệnh lệnh hành chính cho đám lâu la bộ sậu hùng hổ thực thi.
Ngày 29.08.2011 Ngân hàng nhà nước ban hành thông tư 20 về mua bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép. Những quy định của thông tư cực kỳ nhiêu khê và còn có dấu hiệu của “nước đái chuột”. Mỗi ngày mỗi người được mua tối đa là 100 đô la cho một ngày đi công tác, du lịch, khám chữa bệnh, công tác, thăm viếng ..v..v.. và chỉ được mua tối đa cho 10 ngày, với điều kiện phải trình bày lý do bằng văn bản có các giấy tờ khác chứng minh kèm theo. Đối với doanh nghiệp thì khỏi phải nói về những nhiêu khê khốn khổ trong hành trình đi mua đô la của họ.
Ngược lại với thủ tục áp cho người mua ngoại tệ cực kỳ quan liêu, nhiêu khê, theo đúng cái cách mà chính quyền cộng sản này luôn đối xử với dân là “Chúng mày cần nhưng bọn ông đếch cần.”, thì dân tình ngây ngô được khuyến khích đem hết ngoại tệ ra mà bán cho ngân hàng, không hạn chế số lượng, thậm chí bán cả ngoài giờ và ngay tại nhà dân thì nhân viên ngân hàng cũng sẽ rất vui lòng vác bị đến mua luôn và ngay. Còn với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì thậm chí ngân hàng còn có sáng kiến và lạm quyền tự động giữ lại đô la của doanh nghiệp mà bên phía nước ngoài trả cho doanh nghiệp trước đó qua các LC tại ngân hàng và bắt doanh nghiệp muốn lấy được số tiền chính đáng của mình phải mất rất nhiều thời gian công sức cho các thủ tục quan liêu hành dân, đến mức gần như tất cả các doanh nghiệp đều phải cho nhân viên ngân hàng ăn của đút để giải quyết cho họ được rút ngoại tệ của họ ra
Xin nhắc lại chút ít rằng tất cả các ngân hàng nội địa Việt Nam dù là tư nhân (nguồn gốc thành lập) hay quốc doanh được cổ phần hóa thì đều có cổ đông lớn nhất là phe cánh, bè nhóm của các thể loại lãnh đạo chóp bu cộng sản.
Ví dụ: Ngày 31.08.2012, tại Huế, công an đã bắt 1 vụ mua bán ngoại tệ trái phép của ông Lộc – người bán 10.000 đô la Mỹ với bên mua là hiệu vàng Phước Lộc trên đường Mai Thúc Loan – tiền để mua là 209 triệu đồng. Người bán và mua bị tịch toàn bộ số tiền này, ngoài ra còn bị phạt mỗi người một số tiền khổng lồ là 80 triệu đồng. Báo Thanh tra điện tử đăng ngày 17.10.2012, ngoài ra bài viết còn nhấn mạnh “Theo các điều tra viên, việc mua bán ngoại tệ trái phép này nhằm thu lợi bất chính. Do thủ đoạn, hành vi hết sức tinh vị nên lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ công an thành phố Huế đã phải mất nhiều thời gian mới bắt được.”
Ở Việt Nam, lên tiếng đòi tự do ngôn luận, viết báo đòi tự do lập hội, đi biểu tính đòi tự do yêu nước còn bị chính quyền vu cho là “để kiếm tiền, nhằm thu lợi bất chính” thì việc mấy người trên bị đối xử như tội phạm bắt quả tang, bị tịch thu hết cả tiền bạc, rồi còn bị xử phạt là cũng đúng thôi. Nhưng cái “đúng” này nên nhớ là đúng với nhu cầu ăn cướp, đúng với cách hành pháp hành dân, bẫy dân của chính quyền cộng sản Việt Nam, chứ hoàn toàn không phải là sự đúng đắn và phù hợp với nhu cầu thực tế và hành xử bình thường có đạo lý của xã hội và người dân Việt Nam. Bằng chứng là ai biết về vụ việc này ngay khi nó xảy ra và bây giờ khi kiểm chứng bài viết này thì chỉ đều thấy phẫn nộ chính quyền cộng sản Việt Nam là một lũ cướp đê tiện, và xót xa oán thán thay cho 2 công dân kia.
Khỏi phải nói sau 1 năm thực hiện thông tư 20 nêu trên, các ngân hàng đã moi được của dân bao nhiêu đô la! Ý quên, mua ạh !
ĐÀO TẨU
Khi quyết định đào tẩu, có 3 điều quan trọng phải nghĩ kỹ:
1- Đào tẩu sang nước nào?
2- Đào tẩu khi nào?
3- Đem theo gì khi đào tẩu?
Đối với lãnh đạo cộng sản cao cấp kiêm tư bản đỏ ở Việt Nam hiện nay thì các câu trả lời đương nhiên là:
1- Đào tẩu sang các nước tự do, dân chủ. Thật đáng tiếc cho họ các nước cộng sản ruột thừa anh em chi sống chí chết của họ lại chẳng có đồng chí nào là tự do, dân chủ cả, nên đành phải vác cái mặt trơ trẽn méo mó cô hồn dị hợm đào tẩu sang các nước tư bản giẫy chết vậy.
2- Đào tẩu khi thời điểm thuận lợi, nhất là việc chuẩn bị tài lực cho cuộc sống sau đào tẩu đã chuẩn bị xong. Nhưng ôi chao! Cái việc này lại hay bị kéo dài vì lòng tham của bọn chúng là vô đáy, với lại mọi sự trên đời này nào có mấy khi như ý mình. Sự không như ý ấy vừa đến từ những rủi ro hoàn toàn ngẫu nhiên, vừa đến từ tình đồng chí cộng sản – cái thứ tình mà ngày hôm trước còn ôm hôn nịnh bợ nhau không biết ngượng như mất trí thì ngay hôm sau đã có thể ra lệnh bắt nhốt nhau, đấu tố nhau và cả giết nhau nhân danh sự “cải tạo”.
3- Hành trang đem theo khi đào tẩu đương nhiên là một lý lịch mới (Con em cộng sản đi du học còn làm hẳn bộ lý lịch và cả cha mẹ mới, bất chấp tự trọng và tình cảm tự nhiên của con người, huống hồ là đào tẩu!) và thật nhiều, thật nhiều tiền và kim loại quý dễ quy đổi và sử dụng được như tiền.
Vậy, tiền ấy là tiền nào, kim loại ấy là kim loại gì mà ở đâu, lúc nào cũng có giá trị ổn định nhất so với các loại tiền và kim loại quý khác?
Ấy là vàng và đô la. Vàng ở đâu cũng là vàng. Đô la ở đâu cũng là đô la. Giá trị luôn được bảo toàn gần như tuyệt đối bằng nhau ở mọi nơi có sử dụng vàng và đô la trên thế giới này (Tất nhiên có thể có xê dịch chút ít, nhưng đảm bảo là rất ít!).
Do vậy, với một chính quyền đã thối nát đến tận cùng, nền kinh tế đã be bét, rách bơm không che giấu vào đâu được nữa, cộng sản chỉ còn trông mong vào sự khiếp sợ của ngươii dân mà nỗi sợ ấy đã được dày công gieo mầm nuôi dưỡng trọn vẹn 3 thế hệ trong hơn nửa thế kỷ qua, để vơ vét nốt được ngày nào hay ngày ấy, rồi đánh bài chuồn. Quá trình chuẩn bị đào tẩu đã được chuẩn bị chu đáo từ lâu dưới mọi hình thức mua bất động sản, chứng khoán, đầu tư trực tiếp kinh doanh, cho con cái du học, kết hôn với người có quốc tịch nước ngoài, đem đô la, vàng kiếm được bất hợp pháp ra gửi ở nước ngoài.
Vàng, đô la ấy kiếm thêm, moi thêm ở đâu ra bây giờ? Đầu tư nước ngoài đã chựng lại vì bộ mặt lật lọng tham nhũng phơi lộ bầy hầy nhớp nhúa đến nỗi tài nguyên thiên nhiên và giá lao động rẻ mạt cũng không còn hấp dẫn như trước nữa rồi. Dân thì cũng đã khôn ra một tí, có bị chính quyền lừa mỵ đến mấy cũng đã bình tĩnh hơn mà suy xét sáng suốt cất giữ bảo tồn tài sản của mình vào những thứ đáng quý và thực chất, và đặc biệt là có giá trị ổn định khi giao dịch toàn cầu.
Ấy là vàng và đô la.
Bỗng dưng lại tưởng tượng có một tên cộng sản tư bản đỏ nào đó lại dựng ngược lên “Ờh đấy! Bọn tao đào tẩu thì phải cần vàng, cần đô la chứ. Dở người mà mang theo tiền đồng Việt Nam để làm giấy lộn àh. Lũ dân đen chúng mày thì đi đâu, cứ yên tâm mà dùng tiền Việt, nhá! Có bao nhiêu vàng, đô hãy mang ra đây, ông có nhà máy ông in tiền đồng ông đổi cho. Chúng mày mà không đổi đúng đầu nậu nhà ông là ông tịch thu hết đấy, nhân danh nhà nước hẳn hoi, nhá! ”
Hà Nội, 20.11.2012
Tác giả gửi cho NTT blog

Cách tân bút pháp hay miếng vải thưa che chiếc đầu rỗng tuếch

Hữu Lý phỏng vấn Nguyễn Hoàng Đức
.
PV: Chào anh Nguyễn Hoàng Đức, anh có nhớ về buổi chúng ta hẹn làm việc hôm nay không?
NHĐ: Tất nhiên là tôi nhớ. Đó là đề tài bút pháp và tư tưởng, cái cốt lõi sống còn của văn học.
PV: Anh nghĩ gì về đề tài hệ trọng này?
NHĐ: Tất nhiên y phục xứng kỳ đức, đề tài lớn luôn phải được quan sát một cách tương xứng. Nhưng với cách sống hời hợt của người Việt, người ta ít có độ chú mục nghiêm túc khi làm việc, ngay đến các phóng viên truyền hình thường nói vấp liên tục, không phải vì họ thiếu tri thức hay không được đào tạo, mà là họ không có trục dọc xuyên suốt chú mục trong tinh thần như một thói quen của tôn giáo hay đức hạnh, vì thế mới hay nói vấp. Còn về bút pháp ư, sợ nhất là kiểu tập trận giả của người Việt, có vẻ thích bàn luận đôi chút, nhưng trong thực tế, lại rất sợ những gì có tính qui lát, chỉ thích cà trớn nhảy nhót vui đùa sáng tác bằng cảm tính. Rồi cậy vào thiên bẩm.

PV: Tôi có vẻ chưa được hiểu rõ ý này của anh. Anh có thể nói giản dị hơn không?
NHĐ: Tôi xin kể một chuyện cụ thể. Khi người ta mở một cuộc hội thảo “Thơ đến từ đâu” ở L’espace Tràng Tiền Hà Nội, giáo sư Hoàng Ngọc Hiến được ngồi trên bàn chủ tịch đoàn. Ông là người áp đầu được mời phát biểu. Ông liền đưa ra ý kiến “Thơ không phải là tư tưởng”. Ai chẳng biết thơ – cũng như nghệ thuật không phải là tư tưởng. Nghệ thuật chỉ mang tính tư tưởng thôi! Chẳng lẽ giáo sư HNH lại không hiểu được? Không! Đó là cách sàng xê biến mình trở thành người đứng bên lề nhưng vẫn không mất phần phát biểu ( Người Việt có lệ “được ăn, được nói, được gói mang về”). Lần thứ hai, tôi gặp giáo sư HNH ở hội thảo văn học Việt-Mỹ nơi Resort Hòa Bình, khi được mời lên phát biểu, ông ngang nhiên dùng xuất nói của mình phát biểu lạc đề 100% để hỗ trợ việc marketing cho một công ty truyền thông. Lần thứ ba, tôi gặp giáo sư HNH ở hội thảo về Trần Đức Thảo tại L’espace. Lúc ra lấy xe máy, có cơ hội chạm mặt giáo sư tôi hỏi :
“sao hôm nay anh không phát biểu gì?”
“Tớ có hiểu gì về Trần Đức Thảo đâu!” giáo sư HNH đáp.
Tôi cho rằng đó là một câu không có trách nhiệm. Theo tuổi tác và trình độ, HNH là một trong vài người tham dự hội thảo hiểu rõ nhất về triết gia Trần Đức Thảo. Vậy mà ông không có ý kiến gì. Qủa là đáng ngạc nhiên! Trình độ như giáo sư HNH mà còn lúc thì nhảy sang bên lề, lúc thì chơi sai sân bãi, lúc thì ngậm miệng tuyệt đối, thử hỏi mấy dạng văn thơ ấm ớ còn tả xung hữu đột giả vờ vào bút pháp đến thế nào?
PV: Xin bàn thẳng vào bút pháp và tư tưởng. Anh nghĩ gì?
NHĐ: Như thường lệ, chữ nghĩa là cái vỏ, còn nội dung là cái bên trong, là cái cần thông điệp-đó là tư tưởng. Tôi rất thích cách nói của người Pháp. Hình thức bên ngoài là xe công-ten-nơ (container), còn hàng hóa được chở bên trong là nội dung được gọi là công-tơ-nu (contenue). Chúng đều bắt nguồn từ động từ contenir – nghĩa là chứa đựng. Cái xe hay cái vỏ hộp bên ngoài chỉ là dụng cụ. Cái được chứa bên trong mới gọi tên sản phẩm đích thực. Bút pháp và tư tưởng có thể được gọi theo những cặp tên sau: “hình thức và nội dung”, “thể loại và đề tài”, “bút pháp và tư tưởng”.
PV: Có nhiều người nói cách tân bút pháp mới quan trọng. Còn tư tưởng ư, thơ đâu có phải tư tưởng như giáo sư HNH nói.
NHĐ: Đấy là những người không có khả năng tư tưởng, họ chỉ là người thợ khéo tay, tất nhiên họ phải đề cao sự khéo tay. Giống như ta ra chợ, trước mặt người bán thịt cá, thì người bán rau phải tìm ra cách biện hộ là rau tốt lắm, có thế chị ta mới bán được hàng. Tư tưởng rót từ trên đỉnh cao xuống. Không có nơi nào trên thế giới mà khi nước từ trên cao đổ xuống như thác lại không trở thành cảnh quan để thăm quan, bất kể trái núi có hình dáng nào. Nước rót càng cao càng đẹp! Văn hào Exupery có ví: đối với những người sống trên sa mạc, thì hình ảnh của thác nước là một thiên đường. Bởi vì nước không chỉ đẹp mà nó là biểu hiện trực tiếp của sự sống. Một người lả khát bên đường, giơ tay ra, dù không hiểu ngôn ngữ của nhau, người ta đều hiểu đó là từ “nước”. Như vậy, hình ảnh cũng như bút pháp không còn là thứ duyên dáng bên ngoài mà nó đã mang thông điệp trực tiếp của cuộc sống. Và lúc đó nó cũng tạo ra giá trị Chân-Thiện-Mỹ. Giống như nước đã qua tay một người ân cần rót thẳng vào chiếc cổ khô cháy của người khát lả.
PV: Ngoài hình ảnh thác nước của tư tưởng, thì còn hình ảnh nào khác giành cho bút pháp và tư tưởng?
NHĐ: Đó là giữa hình thức và nội dung, là cái bao bì và vật phẩm. Một người bán thịt ngon có đông người xếp hàng mua. Người bán hàng luôn tay gói và bán nhưng không xuể, anh liền vội vàng gói xộc xệch qua loa… nhưng dù sao hàng anh bán vẫn đắt khách vì người mua muốn thức ăn thật chứ không thích đồ đóng gói.
PV: Hình thức không quan trọng, vậy chẳng lẽ thời trang lại không cần thiết?
NHĐ: Một người đẹp thì mặc gì cũng đẹp! Người xấu thì thay cả trăm bộ một ngày vẫn xấu. Mà người đẹp càng mặc ít, như cuộc thi hoa hậu ấy đến màn rơi rụng vải vóc phô ra bộ áo tắm bé nhất mới là lúc cơ thể khoe phô vẻ đẹp cao nhất.
PV: Nhưng tôi nghe nói, xã hội văn minh là xã hội của quần áo! Còn xã hội không vải vóc đó là thời nguyên thủy!
NHĐ: Anh đang định dẫn tôi vào mê lộ chữ nghĩa theo kiểu tư biện của lúa nước. Phải nói thế này: xã hội văn minh là xã hội biết ăn mặc ở mức làm tôn lên vẻ đẹp của mình nhiều nhất. Văn minh không có nghĩa là che đậy và giả dối. Trái lại văn minh là tôn vinh cái bản tính lành mạnh tinh khôi của con người.
PV: Nhưng đâu là ranh giới khác biệt giữa cái tinh khôi và cái hoang dã của con người?
NHĐ: Vì thế chúng ta mới cần nhà văn để hướng nhân loại “leo dây” giữa cái ranh giới siêu hình mơ hồ đó. Nhân loại không cần nhà văn như những thợ may sản xuất nhiều kiểu thời trang, mà cần những kỹ sư tâm hồn có khả năng phân định những ranh giới khó nhất của vấn đề cuộc sống hay tư tưởng.
PV: Anh mới viết một bài bàn về cái nhìn xứng tầm hướng về giải Nobel. Hy vọng lần sau chúng ta sẽ bàn về đề tài này!
NHĐ: Rất sẵn lòng! Nhưng sau đó anh muốn chúng ta sẽ bàn về đề tài gì?
PV: Về tầm vóc trực tiếp của các nhà văn xứ A Nam chẳng hạn!
NHĐ: Ồ, toàn những đề tài thú vị bắt người ta phải động não.
PV: Xin chào. Cám ơn anh!
Hữu Lý thực hiện 29/11/2012
Bài gửi qua email
This entry was posted on 29/11/2012, in Báo chí.

Phòng tranh quan niệm, với Vương Tử Lâm

Phòng tranh quan niệm, với Vương Tử Lâm

                                                                  Nguyễn Hoàng Đức

 .

Cái nhìn đầu tiên, như người ta nói, hoạ sĩ Vương Tử lâm đã trưng bày một phòng tranh có lẽ khác hẳn tiền lệ. Tranh xưa nay thường vuông hay tròn, và nó được treo trên tường như một nguyên tắc thường hằng, rằng: cái gì tròn thì lăn cái gì vuông thìđứng. Những bánh xe lăn trên đường thì buộc phải tròn còn những hình vuông xếp ở bất kỳ đâu thì nó được tại vị. Tranh là thứ được định vị ở trên tường thì nó phải vuông hay hình chữ nhật. Nhưng Vương Tử Lâm đã làm một triển lãm khác hẳn là treo tranh tròn ở trên tường. Tròn từ đầu đến cuối, hầu hết triển lãm của ông là tranh tròn (Trừ một vài ngoại lệ lẻ tẻ), đó là một hình thức tròn thuần khiết, tròn một cách có chủ đích, tròn một cách phương tiện và cứu cánh.

Đọc tiếp

Vàng, đô la và đào tẩu

VÀNG, ĐÔ và ĐÀO TẨU

 Lê thị Công Nhân

VÀNG

 

Cái gì quý người ta thường ví như vàng. Đây là kiểu ví von truyền thống đã thành một thành ngữ của Việt Nam, và không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn là chung của thế giới. Thậm chí ví von nghĩa bóng người ta cũng dùng đến vàng, như nguyên tắc vàng, ông bạn vàng, khu đất vàng, thời điểm vàng, đám cưới vàng ..v..v.. Còn ở Việt Nam hiện nay vấn đề gì nổi trội vì sự khó khăn, khó đoán biết, liên tục thay đổi thì người ta nói là “nóng như thị trường vàng” hoặc “điên như giá vàng”. Răng lại có cớ sự như rứa ở cái đất nước Việt Nam nghèo nàn lạc hậu này ?

Đọc tiếp

Cách tân bút pháp hay miếng vải thưa che chiếc đầu rỗng tuếch

 CÁCH TÂN BÚT PHÁP HAY MIẾNG VẢI THƯA CHE CHIẾC ĐẦU RỖNG TUẾCH?

 Hữu Lý phỏng vấn Nguyễn Hoàng Đức

.

PV: Chào anh Nguyễn Hoàng Đức, anh có nhớ về buổi chúng ta hẹn làm việc hôm nay không?

NHĐ: Tất nhiên là tôi nhớ. Đó là đề tài bút pháp và tư tưởng, cái cốt lõi sống còn của văn học.

Đọc tiếp

Người Philippines và đường lưỡi bò

Người Philippines và đường lưỡi bò

Huỳnh Văn Úc

.

Tháng 2/1948 Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch công bố một đường gấp khúc 11 đoạn là đường quốc giới trên Biển Đông trong phụ đồ “Bản đồ vị trí các đảo Nam Hải” đi kèm theo “Bản đồ khu vực hành chính Trung Hoa Dân Quốc” do Cục Phương vực Bộ Nội chính Trung Hoa Dân Quốc phát hành. Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sau ngày thành lập tiếp tục công nhận đường gấp khúc 11 này cho đến năm 1953 thì bỏ hai đoạn trong Vịnh Bắc Bộ để trở thành đường lưỡi bò 9 đoạn có hình dáng như ngày nay. Đường lưỡi bò bao trọn bốn nhóm quần đảo và bãi ngầm lớn trên Biển Đông là Quần đảo Hoàng Sa, Quần đảo Trường Sa, Quần đảo Đông Sa và Bãi Macclesfield với khoảng 75% diện tích mặt nước. Hai mươi lăm phần trăm còn lại là của Việt Nam, PhilippinesMalaysiaBrunei và Indonesia. Đọc tiếp

Người Philippines và đường lưỡi bò

Huỳnh Văn Úc
Tháng 2/1948 Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch công bố một đường gấp khúc 11 đoạn là đường quốc giới trên Biển Đông trong phụ đồ “Bản đồ vị trí các đảo Nam Hải” đi kèm theo “Bản đồ khu vực hành chính Trung Hoa Dân Quốc” do Cục Phương vực Bộ Nội chính Trung Hoa Dân Quốc phát hành. Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sau ngày thành lập tiếp tục công nhận đường gấp khúc 11 này cho đến năm 1953 thì bỏ hai đoạn trong Vịnh Bắc Bộ để trở thành đường lưỡi bò 9 đoạn có hình dáng như ngày nay. Đường lưỡi bò bao trọn bốn nhóm quần đảo và bãi ngầm lớn trên Biển Đông là Quần đảo Hoàng Sa, Quần đảo Trường Sa, Quần đảo Đông Sa và Bãi Macclesfield với khoảng 75% diện tích mặt nước. Hai mươi lăm phần trăm còn lại là của Việt Nam, Philippines, Malaysia, BruneiIndonesia.

Dù cho đường lưỡi bò không được các nước lân bang và quốc tế công nhận nhưng Trung Quốc đã nhiều lần hành động dựa trên cơ sở pháp lý của nó. Tháng 1/1974 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam đang ở bước ngoặt quyết định thì Trung Quốc tấn công chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa. Tháng 3/1988 Hải quân Trung Quốc tấn công đánh chiếm Đảo Gạc Ma thuộc Quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong trận đánh này 64 chiến sĩ Hải quân Việt Nam đã vĩnh viễn nằm xuống giữa biển khơi. Bãi cạn Scarborough được tạo thành từ san hô và đá có hình tam giác với chu vi 55 km và diện tích 150 km2 trên đó có tháp sắt cao 8,3 m do Hải quân Philippines dựng lên từ năm 1965 để tuyên bố chủ quyền. Trong năm 2012 bãi cạn này trở thành mục tiêu tranh chấp căng thẳng và kéo dài giữa Trung Quốc và Philippines. Và gần đây nhất là hộ chiếu Trung Quốc có in hình lưỡi bò. Bước đi mới này của nhà cầm quyền Trung Quốc bóc trần sự giả dối của các nhà lãnh đạo Trung Quốc khi tại 

Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 cũng như tại Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ 7 tại Campuchia họ đã nói những lời tốt đẹp về hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước, đặc biệt là các nước ven Biển Đông. Việt Nam, Ấn Độ và nhiều quốc gia khác lên tiếng phản đối. Trong cuộc họp báo thường kỳ ngày 26/11/2012 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bà Victoria Nuland  nói rằng tuy Hoa Kỳ đóng dấu nhập cảnh lên hộ chiếu có đường lưỡi bò nhưng như thế không có nghĩa là công nhận đường lưỡi bò với lý do vùng biển trong phạm vi của nó là vùng đang có tranh chấp.Trong các cách biểu thị sự phản đối đó thì cách của người Philippines mang một sắc thái hài hước nhưng không kém phần độc đáo, sâu cay và tinh quái. Họ khỏa thân đi diễu hành trên đường phố nhưng không khỏa thân hoàn toàn. Vào cái chỗ cần che đậy nhất của người đàn ông họ đeo một tấm bản đồ có hình lưỡi bò.

                                                                                                                          H.V.U
Tác giả gửi cho NTT blog
This entry was posted on 28/11/2012, in Báo chí.

Kết thúc cuộc “thi” dịch văn xuôi ra thơ Đường luật (II)

Kết thúc cuộc “thi” dịch văn xuôi

ra thơ Đường luật (II)

.

(Tiếp theo và hết)

3. Bây giờ nhà cháu xin có ý kiến về thơ và luật thơ:

Luật thơ sinh ra trong quá trình làm thơ, được đúc kết và hoàn thiện dần dần. Thơ chúng ta đang bàn là thơ Đường luật chứ không phải thơ Đường. Thơ Đường là thơ làm trong thời kỳ nhà Đường (618 – 907) bên Trung Quốc, còn thơ Đường luật là thơ làm theo luật thơ Đường. Mặc dù vậy, Đường luật bây giờ đã khác nhiều so với thơ thời kỳ nhà Đường. Ngày xưa, các cụ nhà ta chủ yếu làm thơ Đường luật. Từ khi phong trào Thơ Mới ra đời, thơ Đường luật bị chỉ trích và lép vế rồi vắng bóng dần trên thi đàn. Gần đây, nhiều người yêu thích thơ Đường luật đã có nhiều cố gắng trong việc khôi phục, truyền bá thơ Đường luật. Từ ngày có Internet, việc phổ biến thơ Đường luật càng thuận lợi hơn. Có nhiều diễn đàn mở lớp học thơ Đường luật. Luật thơ Đường được hoàn thiện, nâng cao lên rất nhiều.

Đọc tiếp

Kết thúc cuộc “thi” dịch văn xuôi ra thơ Đường luật (I)

Kết thúc cuộc “thi” dịch văn xuôi

ra thơ Đường luật (I)

Thưa các bác,

Trong bài viết trước, nhà cháu đã có ý kiến rằng “sau bài viết này, nhà cháu xin phép không bình, không nhận xét bài của bác nào nữa vì nghĩ qua gần 30 bài đưa ra ra làm ví dụ cũng đã nêu đủ những điều cơ bản về thi pháp Đường luật”.

Tuy vậy, một số bác vẫn tiếp tục gửi bài hoặc có ý kiến trao đổi. Vì thế, trước khi vào phần kết thúc, nhà cháu xin dành mấy dòng để hầu chuyện các bác đến sau:

Đọc tiếp

Việt Nam nhắm giải Nobel: Cần phải có tầm bay tương xứng

(Trao đổi với tiến sĩ Đoàn Hương và dịch giả Thúy Toàn)

Nguyễn Hoàng Đức

Nhắm giải Nobel văn học cho dân tộc Việt Nam, đó là một mục tiêu cao tột bậc của văn hóa tinh thần, điều đó đòi hỏi chúng ta phải có một thái độ nghiêm túc, một sự chuẩn bị sâu sắc mạch lạc, chứ không phải trò cợt nhả úm ba la, để rồi trở thành cái gì đó cà trớn lâu ngày thành nhờn. Có những kẻ dở điên dở dại nằm lăn lóc bên đường, rút kiếm nhựa chỉ tới chỉ lui theo những đoàn xe xuôi ngược. Chắc hẳn kẻ đó đang tưởng mình là hoàng đế Quang Trung chỉ huy quân ngược Bắc xuôi Nam, bởi vì nếu kẻ đó tưởng mình là cảnh sát giao thông, hắn sẽ cầm cái còi, chứ không phải cây kiếm nhựa. Việc mơ tưởng giải Nobel văn học cho Việt Nam cũng vậy, nếu không nghĩ và làm sát thực thì chỉ là giấc mơ hoàng đế của kẻ mang kiếm nhựa mà thôi.

Mới đây, trên truyền hình, có phát cuộc gặp gỡ giữa tiến sĩ Đoàn Hương, dịch giả Thúy Toàn, nhà văn Trang Hạ và nhà đài. Nội dung đại ý:
1- Thúy Toàn: Các nhà văn ta cũng nhiều người có tài nhưng họ còn phải làm nhiều việc như kiếm ăn nữa chứ, và vì thế khó mà giành hết tâm huyết cho văn chương.
2- Tiến sĩ Đoàn Hương: Tầm văn học của Việt Nam còn thấp. Muốn viết văn thì phải có tài năng theo kiểu thiên bẩm. Chẳng hạn có người cất tiếng hát chẳng ai thấy gì, nhưng có người vừa mở miệng giọng hát đã gây nôn nao xúc động.
Tôi xin trao đổi cùng hai vị như sau. Về việc các nhà văn xứ ta còn nghèo, còn lo cái ăn. Lo cái ăn là của mọi người, công nhân, nông dân, trí thức, nhà buôn đều phải lo kiếm sống mưu sinh, và việc đó chưa bao giờ ngừng gay gắt ở bất cứ đâu trong lịch sử. Có nhiều người phải bán máu, bán cả bộ phận trong người để kiếm sống hay nuôi con. Vì thế đừng nên nghĩ chỉ có nhà văn mới phải vất vả mưu sinh. Khi một đội bóng đá thua, người ta bàn về chiến thuật chiến lược, chứ không thể đổ lỗi cho việc ăn đói. Cầu thủ bóng bàn, bóng chuyền, hay dụng cụ cũng vậy, nếu nói về bộ môn nào cũng đổ cho thiếu ăn, thì có nghĩa tất cả những chuyên môn và giá trị trên đời đều là chuyên môn của nhà bếp. Và có thể toàn bộ hình ảnh của loài người cũng chỉ là cái dạ dầy đang vo ve quanh cái nồi của nhà bếp mà thôi. Trên thực tế, xét về kinh tế nhiều nhà văn của ta đâu có nghèo, thậm chí họ còn siêu giầu. Chẳng hạn nhiều người được rót đầu tư để viết kịch bản truyền hình, chẳng phân biệt kẻ cao người thấp, họ xúm vào viết, kịch bản mỗi tập phim chỉ dăm trang A4, lĩnh vài chục triệu. Tài năng không tính vì phim truyền hình Việt Nam “phở mậu dịch, kịch ti vi” dở như thế nào ai cũng rõ, nhưng cái chính là ai được rót vốn đầu tư? Hiện thực hơn, có rất nhiều nhà văn sau khi nổi tiếng được trả nhuận bút rất cao, nhưng các báo, rồi nhà xuất bản đề nghị họ viết một chuyện hay một mẩu cũng được, nhưng họ không thể viết vì vốn liếng cạn hết cả rồi. Nhà văn Nam Cao(?) nói : Tri thức viết văn như vốn để đi buôn, anh tri thức thấp, anh buôn bằng cái gì? Hết vốn sống bằng văn học thì chớ nên đổ cho thị trường không có đất buôn bán?!
Tiến sĩ Đoàn Hương cho rằng người viết văn phải có tài thiên phú giống như trời cho ai giọng hát hay. Nói vậy là khập khễnh và kém hiểu biêt vô cùng. Tại sao? Chúng ta không thể so ca sĩ với nhà văn. Ca sĩ có mỗi cái cổ họng. Còn nhà văn phải là kỹ sư của tâm hồn. Hơn nữa, trên thế giới người ta buộc phải xác nhận, có thể có thần đồng âm nhạc, nhưng không thể có thần đồng văn học. Thần đồng thơ Trần Đăng Khoa là một thần đồng cỡ bậc nhất thế giới, nhưng lớn lên trở thành cái gì, có leo vào tốp hạng hai của thơ thế giới không? Trên thế giới người ta có khẩu hiệu cho nghệ sĩ “Bí quyết của thành công là luyện tập”. Làm gì có khẩu hiệu “bạn hãy tin vào tài năng thiên phú của mình”. Nhạc sĩ thiên tài Schumann nói : Thiên bẩm chỉ là mọt chút sắt gỉ, nếu không có sự tinh chế không thể thành dây cót đồng hồ. Nào chúng ta hãy nhìn đi, có cục sắt nào trong tự nhiên có thể thiên phú thành chiếc đồng hồ.
Một chiếc máy bay, khi cất cánh muốn bay xa thì nó phải nâng độ cao, nếu không nó chỉ là con chuồn chuồn bay quanh quẩn. Nhìn tới giải Nobel cũng vậy, cần một độ cao tương xứng. Trong khi đó tầm nhìn của dạ dầy hay thiên phú (tức vốn tự có) chỉ tạo ra nơi ẩn nấp cho những kẻ vừa lười biếng vừa kém tài hy vọng vào giấc mơ sổ số. Vậy tôi xin đưa ra những những bậc thang của hành trình đi đến Nobel:
1- Tri thức. Với người phương Tây, tri thức tức “conscience” cũng có nghĩa là lương tri. Tri thức lớn cũng có nghĩa lương tâm cao. Tri thức của nhà văn Việt còn thấp quá, từ đó sinh ra chữ Chân, chữ Thiện và chữ Mỹ đều thấp cả. Hầu hết tư tưởng của người ta được hình thành từ đỉnh cao tri thức. Có đỉnh núi tư tưởng thì nước trên cao tất yếu đổ xuống và tạo thành cảnh quan. Không có đỉnh tư tưởng nước chỉ là những vũng lầy lép nhép. Một nền văn học lẹt đẹt xuất hiện bởi chính không có đỉnh cao tư tưởng.
2- Tôn giáo: Không có tôn giáo, sẽ không có giá trị siêu hình, sẽ khó có được lý tưởng cho cuộc sống thoát tục, mà chỉ còn là buôn thần bán thánh cùng những tranh giành lầy lội của thế tục. Điều đó lý giải tại sao nhiều nhà văn Việt dù giầu có cũng không thể viết bởi vì ngòi bút của họ vẫn chỉ loay hoay đời sống thế tục bầm dập mưu sinh, mưu tình dục. Việt Nam có gần 99% vô thần. Trên thế giới có nhiều nhà văn vô thần, nhưng họ đạt đến trình độ phản thần, chẳng hạn như triết gia Nietzsche, dù ông thừa nhận đời ông tri ân rất nhiều đạo Tin Lành đã đem đến cho ông nhiều giá trị kiến thức và đạo đức, nhưng ông vẫn từ chối rửa tội lúc chết để được sống và chết như một nhà vô thần thuần khiết. Nhưng vô thần ở Việt Nam là vô thần vô tri như cây cỏ, chẳng hiểu gì để đạt tới thái độ phản thần.
3- Nhân vật: Là cấu trúc tiên quyết bắt buộc cho các tác phẩm văn học. Bởi lẽ không có nhân vật cấu trúc tư tưởng và hành động của nhân vật cũng như thế giới sách vở không thể hình thành. Ngay cả điều này, các nhà thơ, nhà văn Việt còn rất mơ hồ. Họ đua nhau viết vài trăm trường ca không cốt truyện và nhân vật…
4- Sức lực yếu: Các tiểu thuyết của Việt nam đến cuốn hai đều nhạt. Tại sao? Vì đó là thể tạng yếu không chịu rèn luyện hay chú mục, vì thời gian sức lực còn lo kiếm sống.
5- Đam mê yếu: Nietzsche nói “Không phải đam mê làm ra các thiên tài mà là sự kéo dài của đam mê đó”. Các nhà văn Việt có đam mê được chăng hay chớ rất ngắn ngủi. Họ không thể tạo ra độ căng cho suốt cuộc hành trình, mà rẽ ngang rẽ tắt rất nhiều để mưu cầu cái ngoài văn học…
Nhìn cách phát biểu của tiến sĩ Đoàn Hương và dịch giả Thúy Toàn, tôi bỗng liên tưởng đến hai hũ dưa muối muốn bàn đến quốc yến nơi đèn đóm cũng cốc tách pha lê long lanh rực rỡ. Nơi giàn nhạc đồ sộ đang chơi khúc khánh tiết chào mừng thì họ mang kèn lá ra thổi, thều thào chẳng ra hòa âm khúc điệu gì. Nếu giải Nobel cần bàn đến ở tầng mây thứ chín thì họ vẫn còn bò trên mặt đất chưa leo lên mái nhà với vài vấn đề hiển nhiên của trần tục như đói và trời cho… “Y phục xứng kỳ đức” hoặc “Quí vật tầm quí nhân”, những vấn đề cao cả trọng đại nên được trao cho người trọng đại, chớ nên vì cậy vào thói quen của cơ chế bao cấp xin cho, cán bộ cứ nhảy đại vào ngêu ngao những vấn đề lớn như giải Nobel không khéo lại thành hội thảo Nobel cho nhà thơ cậy thiên phú Hoàng Quang Thuận. Xin cám ơn và nhận lời trao đổi.
N H Đ 26/11/2012
Tác giả gửi cho blog NTT
This entry was posted on 26/11/2012, in Báo chí.

Việt Nam nhắm giải Nobel: Cần phải có tầm bay tương xứng

Việt Nam nhắm giải Nobel: Cần phải có tầm bay tương xứng

    (Trao đổi với tiến sĩ Đoàn Hương và dịch giả Thúy Toàn)

Nguyễn Hoàng Đức

Nhắm giải Nobel văn học cho dân tộc Việt Nam, đó là một mục tiêu cao tột bậc của văn hóa tinh thần, điều đó đòi hỏi chúng ta phải có một thái độ nghiêm túc, một sự chuẩn bị sâu sắc mạch lạc, chứ không phải trò cợt nhả úm ba la, để rồi trở thành cái gì đó cà trớn lâu ngày thành nhờn. Có những kẻ dở điên dở dại nằm lăn lóc bên đường, rút kiếm nhựa chỉ tới chỉ lui theo những đoàn xe xuôi ngược. Chắc hẳn kẻ đó đang tưởng mình là hoàng đế Quang Trung chỉ huy quân ngược Bắc xuôi Nam, bởi vì nếu kẻ đó tưởng mình là cảnh sát giao thông, hắn sẽ cầm cái còi, chứ không phải cây kiếm nhựa. Việc mơ tưởng giải Nobel văn học cho Việt Nam cũng vậy, nếu không nghĩ và làm sát thực thì chỉ là giấc mơ hoàng đế của kẻ mang kiếm nhựa mà thôi.

Đọc tiếp

Minh Hằng – Trăng vẫn sáng

NGUYỄN TƯỜNG THỤY
Chẳng cần phải lục tài liệu, tôi vẫn nhớ như in Bùi Thị Minh Hằng bị bắt bao nhiêu lần, vào những ngày nào, trong trường hợp nào; mỗi lần bị giam, giữ là bao nhiêu ngày.
Oan khiên nhất là việc Minh Hẳng bị bắt đưa vào trại cải tạo Thanh Hà 5 tháng. Cô cũng đi biểu tình như mọi người, chỉ khác mọi người là hô to hơn những khẩu hiệu chống Trung Quốc, yêu cầu toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam.
Chỉ còn vài ngày nữa là kỷ niệm 1 năm Minh Hằng bị bắt. Tuy vậy, tôi viết những dòng này không phải để kỷ niệm cái ngày đáng buồn ấy, dẫu rằng rất đáng nhớ. Tôi viết vì tôi đang đau xót thay Minh Hằng …

Sự kiện Minh Hằng bị bắt ngày 27/11/2011 rồi đưa thằng vào trại Thanh Hà làm chấn động những người biểu tình tại Hà Nội và những người yêu nước trong nước cũng như hải ngoại. Mọi người thương cô, lên tiếng bảo vệ cô, gom góp nhiều, ít để bù đắp cho cô. Thật là hiếm có ai được quan tâm đến thế.
Những tấm lòng thơm thảo của bà con trong nước và hải ngoại cũng đã đến được với cô tuy chỉ là những gói quà, những đồng tiền tiêu vặt, chi phí đi lại thăm nuôi. Vì không ai được trực tiếp thăm cô nên mọi sự giúp đỡ dành cho Minh Hằng phải thông qua con trai cô, và như vậy, cô không thể biết được cụ thể. Sự giúp đỡ này cũng chấm dứt khi nhà cầm quyền trả tự do cho cô.
Minh Hằng một con người can trường dũng cảm đến phi thường. Cô không bao giờ tỏ ra sợ hãi, khuất phục trước bạo quyền. Cô từng có những hành động phản đối chế độ trại cải tạo như tuyệt thực, đập đầu, cắt ven tay, lấy kéo cắt chỉ rạch bụng không thành. Ra trại, cô tuyên bố tự thiêu để phản đối chính quyền đàn áp, bức hại những người dân vô tội.
Vừa rồi, anh em gặp nhau, Hằng nói cô chỉ mơ đến một cái chết sao cho có ích, cho xứng đáng mà thôi.
Tuy không muốn cô làm như thế nhưng tôi hiểu những việc làm, lời tuyên bố của cô là thật, theo cái lẽ tự nhiên của cô. Không phải để dọa ai, cũng không phải để lấy tiếng.
Mọi người thương và quí trọng Minh Hằng bởi nhiều lẽ. Ngoài tinh thần quả cảm, Hằng còn có một hoàn cảnh đặc biệt. Gia đình cô không được êm ấm, chị em mâu thuẫn, các con không đáp ứng được mong muốn của mẹ …
Đằng sau vẻ kiên cường, mạnh mẽ của Minh Hằng là những nỗi niềm sâu kín u uất. Hẳn là không ít lúc, Minh Hằng lặng lẽ ngồi khóc cho số phận của mình.
Nhưng không vì thế mà cô sống khác đi. Cô là con người cao thượng. Phải đánh giá cô bằng việc làm, bằng bản lĩnh, bằng tiết tháo, bằng nghĩa cử chứ không thể lấy tiêu chuẩn đạo đức học trò hay công dân ngoan ngoãn để đánh giá cô. Xin đừng khoét sâu thêm vào nỗi đau của cô rồi đặt ra vấn đề vì sao, vì sao…
Trong cuộc đấu tranh vì chủ quyền đất nước, vì một xã hội tốt đẹp, công bằng, Minh Hằng ngày càng vững vàng hơn. Hằng nói với tôi: “Cảm ơn Đảng và Nhà nước đã biến em từ một người nội trợ Bùi Hằng thành chiến sĩ Bùi Hằng”.
Đúng vậy, Minh Hằng bây giờ đã chín chắn hơn, bản lĩnh hơn. Còn cái tình của cô đối với bè bạn vẫn chứa chan. Điều này giải thích vì sao sau khi ra trại, bị cưỡng chế về thẳng Vũng Tàu, nhiều người từ Hà Nội đã vào với Minh Hằng. Hơn 6 tháng sau, một cuộc đón mừng Minh Hằng ra Hà Nội đã diễn ra trong không khí ấm áp, cảm động và thấm đẫm tình người.
5 tháng trong trại, Minh Hằng mất đi nhiều thứ, đau đớn nhất là về tình cảm gia đình. Về mặt kinh tế, chuyện nhà cửa, nợ nần cũng rất phức tạp nhưng cô không kể lể  Có một lần mấy anh em Hà Nội bàn với tôi làm cách nào để giữ được nhà cho Hằng. Tôi hỏi Hằng về chuyện nợ nần, về nhà cửa, Hằng gạt đi. Về mặt này, cô rất khái tính.
Trong hoàn cảnh như thế, Hằng vẫn tiếp tục đấu tranh, vẫn tìm cách giúp đỡ những dân oan và nhiều cảnh ngộ khác. Hằng vẫn sống vì người khác, vẫn quan tâm đến mọi người. Cô tận tình chu đáo với bè bạn như những người nhà quê chân chất.
Có điều bây giờ, cô khó khăn hơn rất nhiều so với trước khi tham gia biểu tình chống Trung Quốc. Mất mát của cô lớn quá. Mà tôi thì không làm gì được cho cô.
Tôi đã viết nhiều bài bảo vệ Minh Hằng. Hằng chưa bao giờ làm cho tôi ân hận về những gì tôi viết ra vì cô. Bài thơ “Hằng ơi” tôi viết trên đường đi thăm Minh Hằng về nhưng không được gặp, có câu:
Hãy kiên trung nhé, Minh Hằng 
Tên em vằng vặc, trăng rằm cũng ghen.
Và bây giờ Minh Hằng – trăng vẫn sáng.
Minh Hằng trong khi biểu tình chống Trung Quốc
.
Minh Hằng trong trại cải tạo Thanh Hà
.
Minh Hằng khi vừa ra trại
.
Hai anh em gặp lại nhau sau 1 năm xa cách.
25/11/2012
NTT

Cháy nhà ra mặt chuột

Nguyễn Văn Khải – Ông già Ôzôn.
Tối 22-11-2012, khán giả màn hình nhỏ của VTV1 đã thấy người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: “Tấm hộ chiếu mới của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan ở Biển Đông”.
Ba câu hỏi đã được đặt ra: Những cuốn hộ chiếu của Trung Quốc có in hình lưỡi bò bắt đầu được lưu hành từ bao giờ? Đã có bao nhiêu người Trung Quốc dùng hộ chiếu này để vào Việt Nam? Tại sao người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam không khăng định: “Những người Trung Quốc nào dùng hộ chiếu có in hình lưỡi bò sẽ không được nhập cảnh vào Việt Nam”.

Hôm sau “gần 200 khách du lịch Trung Quốc làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam ngày 23/11 tại cửa khẩu quốc tế Lào Cai, cơ quan chức năng Việt Nam đã đóng dấu hủy bốn hộ chiếu có in chìm hình đường lưỡi bò, đồng thời bộ đội biên phòng làm nhiệm vụ tại cửa khẩu này đã đóng dấu thị thực vào giấy thông hành rời cho người nhập cảnh” và “Biên phòng Móng Cái đã áp dụng biện pháp chỉ cấp thị thực rời cho người Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam sử dụng cuốn hộ chiếu phổ thông điện tử có in bản đồ đường lưỡi bò ở một số trang. Khi cấp thị thực rời, các cơ quan chức năng sẽ không phải đóng dấu chứng thực vào hộ chiếu và qua đó khẳng định không công nhận bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc dưới bất cứ hình thức nào, đại diện đồn biên phòng số 7 khẳng định” (Báo Tuổi Trẻ ngày 24-11-2012).
Chẳng nhẽ các cửa khẩu vào Việt Nam chỉ có hai cửa khẩu ở Lào Cai và Móng Cái?
Tôi đã từng đi qua cửa khẩu Lạng Sơn, có lúc thấy vài chục tới hơn trăm người cùng làm thủ tục xuất hoặc nhập cảnh ở cửa khẩu này. Tương tự, ở các sân bay như Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng,…tôi cũng thường thấy nhiều người nước ngoài trong đó có người Trung Quốc làm thủ tục xuất nhập cảnh ở những nơi đó.
Vậy sau khi Bộ Ngoại giao Việt Nam đã tuyên bố phản đối việc Trung Quốc phát hành hộ chiếu có in hình lưỡi bò, mới chỉ có bộ đội biên phòng ở Lào Cai và Móng Cái thực thi quyền bảo vệ an ninh quốc phòng của đất nước mình? Còn ở các cửa khẩu khác thì những người Trung Quốc mang hộ chiếu có hình lưỡi bò vẫn được nhập cảnh vào Việt Nam ư? Hơn nữa trước buổi tối 22-11-2012 ở hai cửa khẩu này những người Trung Quốc mang hộ chiếu có in hình lưỡi bò vẫn được nhập cảnh vào Việt Nam à? Đặc biệt ai đã cấp visa cho người Trung Quốc không có hộ chiếu ngoại giao dùng hộ chiếu có in hình lưỡi bò vào Việt Nam.
Tất cả những câu hỏi trên đều có thể được trả lời rằng:
Đã có người Trung Quốc mang hộ chiếu in hình lưỡi bò nhập cảnh vào Việt Nam từ lâu rồi. Mà visa vào Việt Nam do các văn phòng lãnh sự thuộc Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc cấp – đây là sự sai lầm không được phép có và không một người Việt Nam yêu nước nào có thể tha thứ cho người đã cấp visa. Phản ứng với sự khiêu khích trắng trợn này của Trung Quốc rất chậm trễ,và không thống nhất trong hành động của các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang có nhiệm vụ bảo vệ an ninh – quốc phòng quốc gia. Nó chứng tỏ rằng sự tùy tiện thực thi nhiệm vụ của các cơ quan,đơn vị này, cũng như sự lãnh đạo lỏng lẻo của các cấp lãnh đạo mà đứng đầu là Hội đồng an ninh quốc gia.
NVK
Tác giả gửi qua email

Minh Hằng – Trăng vẫn sáng

Minh Hằng – Trăng vẫn sáng

 NGUYỄN TƯỜNG THỤY

.

Chẳng cần phải lục tài liệu, tôi vẫn nhớ như in Bùi Thị Minh Hằng bị bắt bao nhiêu lần, vào những ngày nào, trong trường hợp nào; mỗi lần bị giam, giữ là bao nhiêu ngày.

Oan khiên nhất là việc Minh Hẳng bị bắt đưa vào trại cải tạo Thanh Hà 5 tháng. Cô cũng đi biểu tình như mọi người, chỉ khác mọi người là hô to hơn những khẩu hiệu chống Trung Quốc, yêu cầu toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam.

Chỉ còn vài ngày nữa là kỷ niệm 1 năm Minh Hằng bị bắt. Tuy vậy, tôi viết những dòng này không phải để kỷ niệm cái ngày đáng buồn ấy, dẫu rằng rất đáng nhớ. Tôi viết vì tôi đang đau xót thay Minh Hằng …

Đọc tiếp

Cháy nhà ra mặt chuột

 Cháy nhà ra mặt chuột

                                                         Nguyễn Văn Khải – Ông già Ôzôn.

 .

   Tối 22-11-2012, khán giả màn hình nhỏ của VTV1 đã thấy người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: “Tấm hộ chiếu mới của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan ở Biển Đông”.

   Ba câu hỏi đã được đặt ra: Những cuốn hộ chiếu của Trung Quốc có in hình lưỡi bò bắt đầu được lưu hành từ bao giờ? Đã có bao nhiêu người Trung Quốc dùng hộ chiếu này để vào Việt Nam? Tại sao người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam không khăng định: “Những người Trung Quốc nào dùng hộ chiếu có in hình lưỡi bò sẽ không được nhập cảnh vào Việt Nam”.

  Đọc tiếp

Trung Quốc vĩnh biệt Mác – Lê – Mao

Trần Mạnh Hảo

.Lời đề từ trích của Tân Tử Lăng :
(“Văn trị” của Mao thật hồ đồ. Ông ta đã phá hoại một thế giới cũ, nhưng lại không xây dựng nổi một thế giới mới. Mao muốn đưa mọi người lên thiên đường, song lại đẩy họ xuống địa ngục…Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Mác và Ăng-ghen đề xướng trở thành một phong trào xã hội chủ nghĩa bạo lực trương ngọn cờ giải phóng giai cấp công nhân để phá huỷ lực lượng sản xuất tiên tiến. ..“chủ nghĩa xã hội khoa học” trở thành “chủ nghĩa xã hội bạo lực”, khiến mấy thế hệ những người cộng sản bao gồm Lenin, Stalin Mao Trạch Đông… lầm đường lạc lối…)…( trích trong cuốn “Mao Trạch Đông – ngàn năm công tội” của đại tá quân giải phóng nhân dân Trung Quốc Tân Tử Lăng được in công khai tại Trung Quốc, Thông Tấn xã Việt Nam dịch và xuất bản năm 2009)
Đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 vừa qua là đại hội vĩnh biệt ba ông tổ của chủ nghĩa xã hội (không tưởng): Marx, Lenin, Mao Trạch Đông. Trong tất cả các văn kiện chính thức của đại hội này, không hề nhắc đến ba tên tuổi từng được cho là vĩ đại của Marx, Lenin, Mao, được tôn thờ ở Trung Quốc (và thờ ở Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cămpuchia của Khờ me đỏ…). Các văn kiện của đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 đều khẳng định: Đảng đi theo lý luận Đặng Tiểu Bình, nguyên tắc “ba đại diện” (của Giang Trạch Dân…nhưng tên ông này không được nhắc đến – chú của TMH) và xã hội học tập (thuyết của Hồ Cẩm Đào – nhưng tên ông này không được nhắc đến – chú TMH). Đến diễn văn bế mạc của tân chủ tịch đảng, chủ tịch nước kiêm người đứng đầu quân ủy trung ương Tập Cận Bình thì mệnh đề “xã hội học tập” của Hồ Cẩm Đào không được nhắc đến, chỉ nhắc đảng cộng sản Trung Quốc đi theo lý luận Đặng Tiểu Bình, nguyên tắc “ba đại diện” mà thôi. Thậm chí, sau diễn văn bế mạc và nhậm chức, Tập Cận Bình khi giới thiệu sáu vị trong thường vụ bộ chính trị đứng sau mình đã tránh dùng từ “đồng chí” mà dùng từ “đồng nghiệp”…
Vậy lý luận Đặng Tiểu Bình là gì? Thưa là thuyết “Mèo luận”: nôm na gói trong mấy từ mà họ Đặng đã phán sau khi Mao chết (1976): “Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột”…Diễn nôm thuyết “Mèo luận” của Đặng là: tên gọi chế độ là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa không quan trọng, miễn là chủ nghĩa nào làm cho Trung Quốc thoát khỏi chết đói, thoát đại loạn, thoát khỏi các học thuyết phản động và tồi tệ rất xấu xa đốn mạt của Mao Trạch Đông. Sau khi cùng Diệp Kiếm Anh, Hoa Quốc Phong và các lão tướng dẹp bỏ bè lũ bốn tên, Đặng Tiểu Bình lập thuyết “Mèo luận”: dương ngọn cờ Mao Trạch Đông để xóa bỏ tư tưởng Mao, dương ngọn cờ chủ nghĩa xã hội để dẹp bỏ chủ nghĩa xã hội, đưa nước Trung Hoa đỏ vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa từ năm 1978. Về thực chất, Đảng cộng sản Trung Quốc dưới lý thuyết thực dụng “Mèo luận” nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình, đã chôn vùi chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Mao Trạch Đông ngay từ năm 1978, năm xóa bỏ kinh tế quốc doanh bao cấp để thực thi kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nhưng vẫn còn dùng chiêu bài Mác-Lê-Mao hay chiêu bài “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” để ngụy trang.
Cù Thu Bạch (1899-1935) một nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc, từng là Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc năm 1927, 1928, 1930,1931 (là một trong ba người được cho là thiểu năng trí tuệ đã ngu ngốc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê nin vào Trung Quốc: Trần Độc Tú “1879-1942”, Lý Đại Chiêu “1888-1927”) thuở sinh thời đã có bài thơ rất lạ, tuồng như là lời sấm về số phận của Đảng Cộng sản Trung Quốc như sau :
Đó là bài thơ “A di đà Phật”: một bài thơ đẫm chất Thiền của họ Cù:
A di đà phật (Người dịch: Lương Duy Thứ, Nam Trân)
“Đừng suy đoán
Đừng bận tâm
Tìm chi cái không biết
Bàn chi cái tối tăm
Vết thương trong ngày
Lấy mộng ban đêm hàn gắn
Ngày của ngày mai
Tự nhiên sẽ đến …”
Con đường hũ nút đi tìm thế giới không có thật của giai cấp vô sản bằng vũ lực đấu tranh giai cấp, chuyên chế vô sản, xóa bỏ hoàn toàn quá khứ (lịch sử) nhân loại, xóa bỏ tư hữu, tiêu diệt tư bản đầy máu và nước mắt của các đảng cộng sản theo Mác Lê nin ( và theo Mao) đúng như câu thơ sấm truyền của Cù Thu Bạch tiên sinh: “Tìm chi cái không biết/ Bàn chi cái tối tăm/ Vết thương ban ngày/ Lấy mộng ban đêm hàn gắn”.
Mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản là thiên đường không có thật trên trần gian: một xã hội phi biện chứng (Hegel đã truyền cho Marx cái ý tưởng ngu ngốc nhất của mình: đến thiên đường cộng sản, phép biện chứng sẽ biến mất); cái ác, cái xấu, cái giả trá của con người hoàn toàn biến mất, con người hóa những ông thánh, bà thánh, không cần làm việc, chỉ cần ngồi hưởng thụ: “làm theo năng lực, hưởng theo như cầu”. Năng lực có hạn, còn nhu cầu của con người thì vô biên.
Đại đồng cộng sản là một xã hội không có nhà nước, không có quốc gia, không có gia đình, không có chính quyền, không có pháp luật, không có tòa án, không có quân đội, công an, đảng phái, không tôn giáo, không hôn nhân, không có đau khổ , không cô đơn, không có ngân hàng, không có cá nhân, không có cái tôi; ra đường không biết bà ấy, cô ấy là vợ tôi hay vợ anh vì quyền sở hữu bị xóa bỏ; xe hơi, nhà cửa đẹp sang trọng là thế nhưng không còn khái niệm của anh hay của tôi mà là sở hữu toàn dân; tất cả tư liệu sản xuất và công cụ sản xuất là sở hữu toàn dân; rồi thì vợ chồng toàn dân, con cái toàn dân, tình nhân toàn dân, cười vui toàn dân, làm tình toàn dân, cực khoái toàn dân, không còn cái gì gọi là riêng tư nữa; vì đây là xã hội của các vị thánh mà, hoàn toàn không có quan niệm sở hữu, không còn biện chứng tự nhiên và xã hội, chỉ có ngày mà không có đêm, chỉ có cười mà không có khóc, chỉ có vui mà không có buồn, chỉ có sống mà không có chết, chỉ có dương mà không có âm, chỉ có ăn mà không có ỉa ( xin lỗi vì lúc đó theo Marx, lịch sử loài người dừng lại trong cái tuyệt đối, mọi sự hôi thối quyết không được phép tồn tại, tất cả đều thơm điếc mũi kể cả đồng chí bọ xít, phép tương đối của Alb. Einstein đã cáo chung, phép biện chứng đã biến mất theo Hegel-Marx)…
Anh và chị cũng không còn được sở hữu chính mình: anh và chị, tức cái tôi của mỗi người, cái cá thể đã biến mất, nên anh và chị đều là sở hữu toàn dân. Có người cắc cớ chợt ngứa miệng hỏi anh: cái bàn tay của anh có phải của anh không? – Không, của toàn dân! Cái đầu của anh có phải của anh không? – Không, của toàn dân! Cái ý nghĩ (tư duy) trong đầu anh có phải của anh không? – Không, của toàn dân! Cái con chim trong quần anh có phải của anh không? – Không, của toàn dân!
Đã bảo đến đại đồng cộng sản không còn khái niệm sở hữu, tư hữu nữa mà, hỏi hoài à ! Từ “của” không còn tồn tại, từ “sở hữu”, từ “cá nhân”, từ “cái tôi” hoàn toàn biến mất, biến mất cả “sở hữu động từ, sở hữu danh từ” trong các thứ tiếng châu Âu… Người ta cũng sẽ không còn đọc nổi cuốn “Tư bản luận” của Marx nữa vì lúc đó các sở hữu động từ, sở hữu danh từ trong tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh …nơi cuốn sách này đều tự động biến mất…
Xã hội thiên đường cộng sản của Mác Lê Mao là một xã hội bánh vẽ, một xã hội phi nhân như thế, lếu láo như thế, bịa đặt tức cười đến con nít cũng không tin nổi như thế mà trời ơi, đã có hàng triệu, thậm chí hàng tỉ người tin theo, hay bị bắt buộc phải tin theo, vì các đồng chí vô sản sẽ nện búa lên đầu anh, lấy liềm quặp vào cổ anh và hét lên: mày không tin vào thuyết cộng sản của chúng tao, chúng tao sẽ giết mày.
Chao ôi, chỉ có những người mất trí mới tin vào mục tiêu hoang tưởng của chủ nghĩa cộng sản, một học thuyết “tối tăm” như bài thơ trên đã chỉ ra, một học thuyết hoàn toàn phi nhân đã giết chết hàng nhiều trăm triệu người trên thế giới như báo chí quốc tế mà tác giả cuốn “ Mao Trạch Đông ngàn năm cộng tội” là Tân Tử Lăng đã dẫn chứng trong sách của mình :
History’s Largest Killing Regimes
(Những chế độ giết người khủng khiếp nhất trong lịch sử):
Communist China 80,000,000
Soviet Union 60,000,000
Nazi Germany 20,000,000
Imperial Japan 5,000,000
Communist Vietnam 2,500,000
Communist North Korea 2,500,000
Communist Cambodia 2,000,000
Communist Yugoslavia 2,000,000
Chúng tôi xin trích một số đoạn trong cuốn “ Mao Trạch Đông – nghìn năm công tội” của đại tá Tân Tử Lăng được in công khai tại Trung Quốc, bản Tiếng Việt do “ Thông tấn xã Việt Nam” dịch và xuất bản năm 2009, có bày bán công khai :
“Chính sách Đại nhảy vọt) trong kinh tế đã để lại những hậu quả tai hại. Mao Trạch Đông cũng là người phát động Đại Cách mạng văn hóa vô sản, thường gọi là Cách mạng văn hóa. Theo một số liệu thống kê[1], Mao Trạch Đông là nhà lãnh đạo đã trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết cho 77.000.000 người, và người đứng thứ hai là Iosif Vissarionovich Stalin với 43.000.000 người.[2]
Cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” do nhà xuất bản Thư Tác Phường ấn hành, ra mắt tại Hồng Công tháng 7-2007 và tới bạn đọc tháng 6-2008, là một trong những cuốn sách đang được dư luận Trung Quốc hết sức quan tâm, với những luồng ý kiến nhận xét trái ngược nhau, từ hoan nghênh đến bất đồng, thậm chí phản đối gay gắt.
Tác gia Tân Tử Lăng nguyên là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện quân sự cấp cao, Đại học Quân chính, Đại học Quốc phòng Trung Quốc. Ông nhập ngũ năm 1950, từng tham gia các phong trào chính trị do Mao phát động, về hưu năm 1994 với quân hàm Đại tá.
Chúng tôi xin trích một số đoạn trong tác phẩm trên để bạn đọc thấy rõ “thiên đường xã hội chủ nghĩa thực ra là địa ngục trần gian” như sau :
“Kinh điển để Mao cải tạo xã hội chủ yếu là “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Tư tường chủ nghĩa xã hội không tưởng của “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” kết hợp với quan điểm “đại đồng” của Trung Quốc hình thành mô hình chủ nghĩa xã hội không tưởng Mao Trạch Đông. Sự phát triển của nó là Mác + Tần Thuỷ Hoàng (lời Mao Trạch Đông), thêm thắt nhiều thứ mang tính chất phong kiến, cuối cùng biến chất thành chủ nghĩa xã hội phong kiến
“Chương 9
Địa ngục văn chương lớn nhất trong lịch sử loài người” :
“Đến khi Lý phản ánh ý kiến của La Long Cơ rằng ở Trung Quốc hiện nay “tiểu trí thức của chủ nghĩa Mác-Lenin lãnh đạo đại trí thức của giai cấp tiểu tư sản, người mù chỉđường người sáng mắt”, thì Mao nổi giận dữ dội.”
“Theo thống kê chính thức, trong cuộc đấu tranh này, có 552.877 trí thức bị qui là phái hữu, bị đầy đoạ trong 20 năm trời. Đến khi sửa sai (1980), chỉ có 96 người thật sự là phái hữu, chiếm 1,8 phần vạn, nghĩa là trong 1 vạn người chưa đến 2 người.”
“Mao nói: “Phải chuyên chế. Không thể chỉ nói đến dân chủ. Phải kết hợp giữa Các Mác và Tần Thuỷ Hoàng”
“Chương 18
Địa ngục trần gian” :
“Trong 4 năm sau khi Mao tuyên bố thực hiện một số lý tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng (tháng 9-1959) Trung Quốc đã xảy ra thảm kịch làm 37,55 triệu người chết đói (số liệu chính thức được giải mật theo quyết định của Bộ chính trị ĐCSTQ tháng 9-2005), nhiều hơn cả số người chết trong Chiến tranh thế giới II. Đây là cuộc thử nghiệm chủ nghĩa xã hội không tưởng thời gian dài nhất, quy mô lớn nhât, thiệt hại thảm khốc nhất trong lịch sử loài người. Thiên đường cộng sản chủ nghĩa do chính Mao thiết kế và lãnh đạo xây dựng đã biến thành địa ngục trần gian.”
“Khi chân lý trong tay, Mao có thể bao dung các đối thủ, đoàn kết phe phản đối. Thường khi Mao đuối lý, phát hiện mình sai rồi, thì ông ta không thể bao dung phái phản đối, mà quyết tâm đẩy họ vào chỗ chết, để trừ hậu hoạ. Đó là lý do vì sao Mao tàn bạo đến tận cùng đối với những người bạn cũ như Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Hạ Long, Bành Chân, Đào Chú…”
“Chưa một nhà thống trị nào có thể lợi dụng học sinh làm điều xấu. Chỉ có Mao Trạch Đông làm nổi việc này. Mao đã lợi dụng học sinh làm rối loạn cả xã hội, lật đổ cơ quan đảng và chính quyền các cấp, mượn bàn tay học sinh để giày vò các bạn chiến đấu hôm qua, đối thủ chính trị hôm nay.”
“Khởi đầu bằng việc đập phá tượng Thích ca mâu ni trên Phật Hương Các ở Di Hoà Viên, Hồng vệ binh đã phá hoại 4.922 trong số 6.843 di tích cổở Bắc Kinh. Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước có 10 triệu nhà bị lục soát, trong đó Bắc Kinh 11,4 vạn, Thượng Hải 10 vạn. Nhà riêng nguyên Bộ trưởng Giao thông Chương Bá Quân bị Hồng vệ binh chiếm làm trụ sở, hàng vạn cuốn sách ông lưu trữ bị chúng đốt suốt ngày đêm để sưởi ấm. Hơn 200 sinh viên Đại học Sưphạm Bắc Kinh kéo về Sơn Đông “san bằng” mộ Khổng Tử. Lăng mộ của nhiều nhân vật lịch sử hoặc danh nhân như lăng Viêm đế, mộ Hạng Vũ, Gia Cát Lượng. Thành Cát Tư Hãn, Chu Nguyên Chương, Ngô Thừa Ân, Từ Bi Hồng… bị đập phá.”
“Mao còn tạo ra cuộc khủng bố đỏ, cho Hồng vệ binh nông dân thả sức giết hại “kẻ xấu” (địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phái hữu, nhà tư bản, xã hội đen) để áp chế sự phản kháng của nhân dân. Chỉ riêng hạ tuần tháng 8-1966, nội thành Bắc Kinh đã có hàng ngàn người bị đập chết tươi.”
“Nhiều người khi ấy đã được chứng kiến những cuộc tắm máu, những kiểu giết người cực kỳ man rợ như thời trung cổ. Ôn lại chuyện trên, cựu Hồng vệ binh Trần Hướng Dương sau này viết:
“Vì sao những đứa trẻ mười mấy tuổi đầu lại dã man giết người không chớp mắt như vậy? Vì từ nhỏ đã được giáo dục hận thù. Thù địa chủ, thù nhà tư bản, thù Quốc Dân Đảng: Trả thù bằng thủ đoạn tàn nhẫn là thiên kinh địa nghĩa, vấn đề duy nhất là không biết chĩa vào đâu. Kè thù bên cạnh đã bị các bậc tiền bối quét sạch rồi, còn lại Tưởng Giới Thạch và đế quốc lại ở quá xa, không với tới được. Đại cách mạng văn hoá vừa nổ ra, mới đột nhiên biết quanh mình còn ẩn náu nhiều kẻ thù, chúng tôi vui mừng đến phát cuồng, bao nhiêu sức lực dồn nén dều bung ra. Sự cuồng loạn ấy chẳng những hiện nay không mấy ai tin, mà ngay bản thân chúng tôi nhớ lại cũng không dám tin nữa. Những việc làm xấu xa của Hồng vệ binh thật đáng nguyền rủa, nhưng chúng tôi cũng có đủ tư cách lớn tiếng hỏi lại: ai đã giáo dục chúng tôi thành những thằng điên?”
“Băc Kinh “nêu gương”, những vụ tàn sát lan ra cả nước. Huyện Đạo ở Hồ Nam là một trong những điển hình. Khắp nơi là những bố cáo giết người của “toà án tối cao bần nông và trung nông lớp dưới”, những khẩu hiệu kêu gọi giết sạch 4 loại người, (địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phái hữu, trí thức, nhà văn, nghệ sĩ…).”
“Trong hai tháng 7 và 8 năm 1967, Quan Hữu Chí, Trưởng ban vũ trang khu Thanh Đường đã chỉ huy dân quân dùng cuốc xẻng, súng bắn chim, gậy gộc giết hại 207 người, kể cả trẻ em. Do công lao trên, y được bầu là “phần tử tích cực học tập và vận dụng tư tường Mao” cấp tỉnh năm 1967. Viên Phủ Lễ, Khu trưởng Lâm Phô tổ chức 120 dân quân nòng cốt trong ba ngày giết 569 người.”
“Trần Đăng Nghĩa, Chủ tịch Hội Bần nông Đại đội sản xuất Hạ Tưởng là thủ phạm chính trong một vụ giết người, cưỡng dâm tập thể. Thấy vợ mới cưới của con em địa chủ Trần Cao Tiêu xinh đẹp, y sinh lòng ghen ghét và sớm có ý đồ bất lương, thì nay thời cơ đến. Tối 26-8-1967. Nghĩa cho gọi Tiêu đến trụ sở đại đội và trói nghiến lại. Y cầm giáo đâm một nhát vào dùi anh Tiêu, rồi khoát tay ra hiệu. 7,8 dân quân xông vào dùng gậy đập anh Tiêu chết tươi. Để chứng tỏ mình “kiên quyết cách mạng”, y dùng mã tấu cắt đầu anh Tiêu, cùng hai con em địa chủ, phú nông khác cũng vừa bị đánh chết. Chị Tiêu (xuất thân bần nông) sợ quá trốn về nhà mẹ đẻở làng khác, Nghĩa cho dân quân bắt chị trở lại, y tuyên bố các nơi khác vợ địa chủ đều phải “phục vụ tập thể bần nông”.
“Sau khi cơm no, rượu say, Chủ tịch Hội Bần nông và dân quân, tất cả 12 tên, luân phiên cưỡng hiếp chị Tiêu khi ấy đang mang thai 3 tháng. Xong xuôi. Nghĩa không quên thực hiện “chính sách của ĐCSTQ”: cho dân quân khiêng nạn nhân đã ngất xỉu đến nhà bần nông Trần Nguyệt Cao, buộc chị làm vợ người nông dân già độc thân này.”
“Tối 17-10-1969, Lưu Thiếu Kỳ hơi thở thoi thóp, mũi cắm ống xông, họng gần ống hút đờm, phủ một tấm chăn, được cáng lên máy bay quân sự, bí mật đưa đến Khai Phong. Nơi cuối cùng giam giữ Lưu Thiếu Kỳ này nguyên là kho bạc của một ngân hàng từ trước năm 1949, các cánh cửa là những tấm thép dày, chấn song cửa sổ to đùng. Hai trung đội được cử canh giữ ngày đêm, với 4 khẩu súng máy đặt trên các nóc nhà xung quanh đề phòng bất trắc.”
“6 giờ 40 phút sáng 12-11-1969, ngày thứ 27 sau khi bị đưa đến lưu đày ở Khai Phong, Lưu Thiếu Kỳ qua đời trong tinh trạng không được cấp cứu. Khi Lý Thái Hoà, vệ sĩ của ông năm xưa đến nhận xác, thi hài vị Chủ tịch nước đặt trên nền đất dưới gian hầm, chân tay khẳng khiu, đầu tóc rối bời, miệng mũi méo xệch, máu ứ bên khoé mép. Người vệ sĩ dùng kéo xén bớt mái tóc bạc dài gần hai gang tay, sửa sang chòm râu, mặc quần áo, xỏ giày cho ông. Nhân viên chuyên án chụp ảnh để mang về trình Mao, Giang. Sau đó, họ đặt thi hài Lưu Thiếu Kỳ trên xe quân sự nhỏ, chân thò ra ngoài, bí mật đưa đi hoả táng, dưới cái tên “Lưu Vệ Hoàng, không nghề nghiệp”.”
“Gần 3 năm sau, ngày 16-8-1972, mấy người con của Lưu Thiếu Kỳ xin thăm cha mẹ, Mao Trạch Đông phê vào báo cáo của Tổ chuyên án: “Bố đã chết, có thể thăm mẹ”.”
“Lịch sử phải ghi bằng dòng chữ to đậm: Mao Trạch Đông chà đạp Hiến pháp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, giam cầm trái phép Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và hàng trăm hàng ngàn cán bộ cao cấp khác, hàng vạn, hàng chục vạn đảng viên quần chúng vô tội) và bức hại Người và các đồng chí khác của Người một cách man rợcho đến chết.”
“sai lầm của Mao làm chết đói 37,55 triệu người. Một lãnh tụ đảng luôn miệng nói giải phóng nhân dân, phục vụ nhân dân, mang lại hạnh phúc cho nhân dân phạm tội ác lớn như vậy, mà lại cự tuyệt nhận sai lầm, không từ chức, lại phát động Đại cách mạng văn hoá, cách chức, đánh đổ, thậm chí dồn vào chỗ chết khoảng trên 80% đảng viên cộng sản chính trực”
“37,55 triệu người chết đói là sự thật lịch sử không gì bác nổi chứng minh rằng lý luận và thực tiễn chủ nghĩa xã hội không tưởng của Mao là chủ nghĩa xã hội giả hiệu phản động nhất, tàn khốc nhất trong lịch sử loài người. Mỗi khi nghĩ đến điều này, Mao rùng mình ớn lạnh.”
“những lý luận của Mao như phòng, chống xét lại, ngăn chặn chủ nghĩa tư bản phục hồi, tiếp tục cách mạng dưới nền chuyên chính vô sản… đều trởthành dối trá, bịp bợm.”
“Mao Trạch Đông những năm cuối đời tâm địa tối tăm, giả dối, xảo trá, vừa không từ bất cứ việc làm xấu xa nào, lại muốn để lại tiếng thơm muôn thuở”
“Ngồi trên đỉnh kim tự tháp tác oai tác quái, bức hại cán bộ lãnh đạo các cấp, lừa bịp toàn đảng, toàn quân, toàn dân, không chỉ là tứ nhân bang” (lũ bốn tên), mà là “ngũ nhân bang”, do Mao Trạch Đông làm bang chủ.”
“Ba năm Đại tiến vọt, cả nước có 37,55 triệu người chết đói tồn thất khoảng 120 tỉ NDT. Mười năm Đại
cách mạng văn hoá, theo Diệp Kiếm Anh tiết lộ tại lễ bế mạc Hội nghị công tác Trung ương ngày 13-12-1978, có 20 triệu người chết, 100 triệu người bị đấu tố, lãng phí 800 tỉ NDT.”
“Nhân dân đã thức tỉnh. Việc tiếp tục treo ảnh Mao trên Thiên an môn, tiếp tục để thi hài Mao ở nhà kỷ niệm là lạc hậu so với quần chúng rồi, cần xử lý thỏa đáng đất nước ta triệt để bóng đen Mao Trạch Đông”
Nhà báo kiêm nhà sử học Dương Kế Thằng (Yang Jisheng) đã bỏ ra 15 năm trời thu thập chứng cứ để viết ra tác phẩm « Bia mộ », tài liệu đầy đủ nhất từ trước đến nay về nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Sách đã được tái bản đến lần thứ tư tại Hồng Kông.
« Cuốn sách này là bia mộ cho cha tôi, bị chết đói vào năm 1959, bia mộ cho 36 triệu người dân Trung Quốc nạn nhân của trận đói, bia mộ cho chế độ đã gây ra thảm kịch này ». Tác giả đã viết như trên trong lời nói đầu của bản dịch tiếng Pháp vừa được nhà xuất bản Seuil phát hành tại Paris ngày 13/09/2012.
Sinh năm 1940, Dương Kế Thằng từng là phóng viên kỳ cựu của Tân Hoa Xã, và hiện nay là Phó tổng biên tập tạp chí Viêm Hoàng Xuân Thu (Yanhuang Chunqiu). Mười lăm năm điều tra trên thực địa, với hàng ngàn trang tài liệu tìm được ở địa phương và rất nhiều nhân chứng, tác giả đã thuật lại sự điên cuồng của việc cưỡng bức tập thể hóa, lên án Mao Trạch Đông là bạo chúa tàn ác nhất, vô nhân đạo nhất trong lịch sử Trung Quôc và lích sử thế giới, vượt xa các bạo chúa khác như Tần Thủy Hoàng, Thành Cát tư hãn, Stalin, Hit le…
Viết đến đây, chúng tôi ngậm ngùi thương đất nước mình, dân tộc mình hình như trong quá khứ đầu thế kỷ hai mươi đến nay không còn người thông tuệ, sáng suốt đưa dân tộc, đất nước thoát khỏi những tà thuyết đã gây nên hàng triệu cái chết cho đồng bào, gây đau khổ tang tóc vô cùng tận cho quê hương ta. Xin quý vị độc giả cùng chúng tôi đọc lại nguyên lý dưới đây trong cương lĩnh của đảng Lao động Việt Nam trong đại hội đảng năm 1951 tại Việt Bắc để biết đất nước ta vì sao nên nỗi :
“Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Ǎngghen – Lênin – Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”
Người viết bài này xin trích lời của Tân Tử Lăng- tác giả sách vừa dẫn để kết thúc bài viết :
“Phải tiến hành một cuộc chuyển đổi ý thức hệ sâu sắc, tuyên bố công khai và rõ ràng trước toàn đảng, toàn dân: từ bỏ những giáo điều “tả” khuynh từ Mác, Ăng-ghen, Lenin, Stalin đến Mao Trạch Đông – những lý luận đã mấy chục năm đưa Trung Quốc vào con đường sai lầm, đem lại cho Trung Quốc nghèo nàn, rối loạn và chuyên chế, đến nay vẫn cản trở và phủ định công cuộc cải cách-mở cửa…Đổi tên ĐCSTQ thành Đảng Dân chủ Xã hội, tham gia Quốc tế xã hội, để kế tục cội nguồn lịch sử của Đảng Dân chủ Xã hội…” ( tức Quốc tế 2, tiền thân của các đảng xã hội, công đảng châu Âu bây giờ và một phần đảng dân chủ Mỹ- Chú của TMH).
Đảng cộng sản Trung Quốc trong đại hội lần thứ 18 vừa qua, đã thực hiện mơ ước của Tân Tử Lăng là vĩnh biệt ba ông tổ : Marx-Lê-Mao. Có lẽ đến đại hội thứ 19, đảng cộng sản Trung Quốc mới đổi tên là Đảng Dân chủ xã hội như mơ ước của Tân Tử Lăng chăng ?
Hi vọng truyền thống bắt chước đảng cộng sản Trung Quốc của đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn được tiếp tục, để bỏ tên hai ông kễnh Marx-Lenin ra khỏi cương lĩnh chính trị của mình mà tự do hóa, dân chủ hóa đất nước Việt Nam đang từng ngày bị bá quyền Trung Quốc xâm lược từ tư tưởng chính trị đến đất đai biển trời Tổ Quốc; mong lắm thay !
Sài Gòn 24-11-2012
TMH
Tác giả gửi qua email
This entry was posted on 25/11/2012, in Báo chí.

Văn Học Mậu Dịch cạn vốn hay phá sản?

Hữu Lý phỏng vấn Nguyễn Hoàng Đức
.
PV: Chào Nguyễn Hoàng Đức “nhà chung cư”. Không rõ tôi nên gọi anh bằng nhà gì?
N H Đ: Gọi tên hay chức danh của người khác là phản ánh trình độ của người gọi. Còn người được gọi chẳng có gì thêm vào sự thật cả.
PV: Vậy tôi xin được gọi anh là nhà lý luận phê bình, như thế nó cũng phù hợp hơn với chủ đề của cuộc nói chuyện này. Thưa anh, sự việc Tạp chí Nhà Văn của Hội Nhà văn đóng cửa. Nó nói lên điều gì?
N H Đ: Đó là tấm bình phong ở thượng tầng đã rớt xuống làm phơi ra tất cả!
P V: Anh có thể lý giải rõ hơn không?

NHĐ: Dân bóng đá có câu “tỉ số nói lên tất cả”. Dân buôn có cách nghĩ “phá sản là cái chết hết chuyện”. Còn trong triết học, người ta bảo “hiện tượng phơi bày bản chất bên trong”. Đây không phải hiện tượng ở ngón tay ngón chân, mà là hiện tượng ở trên đầu. Nó phản ánh bộ não hay kiến trúc thượng tầng được bao cấp về tinh thần lẫn tài chính của của văn học mậu dịch Việt Nam đã phá sản. Hơn cả thế nó phơi ra cái lý do tồn tại của Tạp chí Nhà Văn là không hề có thực hay có nhu cầu.
PV: Tại sao lý do tồn tại lại không có thực?
NHĐ: Vì tạp chí là nơi sinh hoạt tinh thần, nơi trao đổi về học thuật, tư tưởng hay bút pháp. Nhưng các nhà văn của ta luôn lẩn trốn việc sinh hoạt tư tưởng, bằng chứng là, có nhiều nhà văn yêu cầu báo Văn Nghệ mở một trang lý luận phê bình, nhưng báo Văn Nghệ cố tình trì hoãn cách thường trực. Văn học Việt Nam nhẹ cân như thứ cỏ dại hoa lác vớ vẩn được sáng tác bằng những cảm xúc bồng bột tùy tiện, không hề phân định nổi gianh giới giữa làng xã, huyện, tỉnh hay trung ương… vì thế mà người ta rất sợ trang lý luận phê bình như mặt trời soi chiếu sẽ làm héo đám cỏ dại đó. Có một câu rất hay trong Kinh Phúc Âm “họ như đám cỏ dại trên nóc nhà sẽ cháy khô trước khi bị nhổ”. Mấy bài thơ lèo tèo, mấy truyện ngắn “quần cộc” lại háo danh leo lên vũ trường nghệ thuật chẳng khác gì cỏ hoa leo lên mái nhà, lấy làm đắc chí. Nhưng rồi chúng sẽ héo khô mà chẳng cần ai nhổ cả. Sự kiện đóng cửa Tạp Chí Nhà Văn chính là một dấu chứng rõ ràng mười mươi về điều đó.
PV: Anh nói có vẻ chắc như đinh đóng cột vậy?
NHĐ: Tôi là người luôn suy xét vạn vật theo nguyên lý mà.
PV: Nghe nói đó là do vấn đề tài chính. Chẳng hạn, như người ta chỉ ưu tiên rót vốn vào báo Văn Nghệ, rồi bù lỗ cho nó. Còn tạp chí thì bị bỏ rơi?
NHĐ: Bản chất chẳng thể hiện gì khác hơn ngoài hiện tượng. Việc bỏ rơi tạp chí, có nghĩa, người ta không quan tâm đến tạp chí vì không đủ trình độ cũng như xây dựng thói quen tư duy giành cho văn học. Vì không sống bằng tư duy nên người ta sợ sệt và lảng tránh tư duy giống như những con dán sợ ánh sáng vậy. Một nền văn học mà không có tư tưởng, tức không có cái đầu là hệ lập trình thì làm sao có thể tồn tại?! Tạp chí Nhà Văn đóng cửa, còn tờ Văn Nghệ cũng đang hấp hối từ lâu rồi.
PV: Tờ Văn Nghệ là sân chơi chính thống của văn học Việt Nam, nếu nó tiêu vong chẳng lẽ văn học Việt Nam cũng xóa sổ chăng?
NHĐ: Ở Việt Nam vẫn đang tồn tại một sự thật, có nhiều doanh nghiệp đã phá sản rồi nhưng người ta không công bố, tại sao? Vì ở châu Á có tư duy “nước một ngày không thể không có vua”. Do nền chính trị yếu ớt độc tài đầy thù hằn đố kỵ ám toán lẫn nhau, nên vua chết rồi người ta không dám cho phát tang, sợ sinh biến. Trái lại, ở châu Âu do tạo ra được nền chính trị có cơ cấu hợp lý lành mạnh, người ta có thể vắng vua cả tháng không sao cả, và ai cũng có thể điều hành, nên người ta không phải bôi phết lên những duy trì phá sản làm bình phong để trộ người đời. Ông Nguyễn Chí Huân Tổng biên tập báo Văn Nghệ cách đây ít tháng có trả lời trên truyền hình rằng: báo Văn Nghệ ngày nay sụt ti-ra, xuống cấp vì các nhà văn, nhà thơ tài ba của “hệ thống” (tức mậu dịch) không chịu gửi bài nữa. Theo tôi đây là cách nói sàng xê tháu cáy. Chúng ta phải nói thẳng thế này: Báo Văn Nghệ xuống cấp là vì các nhà văn, nhà thơ đã cạn sạch vốn liếng rồi. Không thể nào gượng nổi! Hãy điểm danh các khuôn mặt thì rõ. Phải nhìn kỹ hơn xuống móng nhà thì thấy: văn học mậu dịch không còn vỉa quặng tiềm năng nào cả. Tất cả đã là mỏ lộ thiên khai quật hết từ lâu, sẽ chẳng có gì để bất ngờ nữa. Tất cả tài năng như cá mè đã nổi hết trên mặt báo, không còn cá ăn dưới đáy nữa. Làm sao trong đàn cá mè đó lại xuất hiện một con cá voi cho được? Có câu Phúc Âm rằng “con phải là muối để ướp cho người khác mặn”. Nhà thơ ở ta là muối đã hết vị mặn, làm sao có thể ướp thành món ăn cho được?! Có một nhà văn miêu tả thế này: thuốc bắc có thể nấu ba nước. Nhà văn Việt Nam trong ngần ấy năm trời đun lấy sáu bảy chục nước, nó tạo ra mùi lờ lợ thum thủm còn không bổ bằng nước lã. Vì nước lã có thể giải khát. Còn cái nước lờ lợ kia ai dám uống?
PV: Thế còn những cây bút trẻ thì sao? Nghe nói họ viết hậu hiện đại lắm?
NHĐ: Có câu nói rằng “Hậu hiện đại không phải chiếc túi đồng nát đựng những trò phá sản”. Đừng tưởng ba cái văn học viết ở bến đợi xe, hay cấp tốc trên điện thoại sẽ trở thành giấc mơ hậu hiện đại. Ở đời không có vinh quang nào không trả giá. Người Việt nói “thầy già, con hát trẻ”. Nhà văn là thứ thầy đời đừng có ảo tưởng về độ tuổi măng non của mình?
PV: Nhân đây xin hỏi anh một việc, nhiều lần khi ngồi bên nhau, chúng tôi cứ xuýt xoa rằng các nhà thơ của ta tài lắm, bằng chứng là các nhà thơ giữ chức lãnh đạo hiều hơn hẳn các nhà văn?
NHĐ: Tôi xin đáp lại bằng một câu chuyện có thực. Nguyễn Đình Thi luôn luôn nhận mình là một nhà thơ, và tất nhiên ông là một nhà thơ cũng thành công bậc nhất về đường quan lại. Trong sổ tay của ông, có lẽ câu chuyện mà ông khâm phục nhất là chuyện ông đến khuyên nhà văn Nguyên Hồng hãy ở lại Hội Nhà văn. Nhưng Nguyên Hồng rũ áo ra đi trong một buổi chiều qua một sớm mai. Nguyễn Đình Thi đã hạ một thán từ khâm phục “Nhà văn thì phải thế!” Đó là một sự khâm phục cả đời Nguyễn Đình Thi không làm được mà chỉ khao khát! Những người yếu đuối họ thường muốn cộng thêm chức vụ vào tài năng của mình, để “kiễng chân” trên chiếc ghế bảo hiểm. Các nhà thơ khôn ngoan ư? Một chức trung ương ủy viên thôi họ đã chạm ngón chân vào chưa hay bị rớt ngay vòng loại. Họ được phân chức cao chính vì là thứ đầu sai dễ bảo an toàn. Còn một điều này nữa, không ít nhà thơ tự giới thiệu nâng cấp mình thành “nhà văn”, thì có phải chứng tỏ chính họ thấy danh nhà thơ là kém cỏi hơn danh nhà văn không?
PV: Tại sao các nhà thơ không trúng ủy viên trung ương cho dù rất muốn?
NHĐ: Vì họ đâu có hiểu các lãnh tụ chính trị coi thường họ đến thế nào. Chính trị chỉ coi văn thơ không có tư tưởng là chậu hoa cây cảnh tuyên truyền làm dáng cho thể chế. Trong quân đội và công an người ta không cho lái xe lâu năm quân hàm chức đại tá, vì anh là lái xe, chứ là cái thá gì để lên cấp tướng. Còn các nhà văn nhà thơ bao cấp cũng vậy, anh là thứ chậu hoa cây cảnh anh lên trung ương làm gì?! Có nhà lãnh đạo kia đã nói thẳng về cánh văn sĩ Việt Nam rằng không có hiền sĩ lớn, rặt một cánh học hành nửa vời, nửa chữ tác nửa chữ tộ, dăm câu ba điều thơ phú… Trình độ chậu hoa cây cảnh có khôn thì cũng chỉ là thứ khôn ứng xử vụn vặt, đáng gì mà khoe ?!
PV: Có nhiều lần, chúng tôi hỏi nhau, tại sao có nhiều nhà văn, nhà thơ của Nga tự tử, còn ở ta thì không? Đó có phải do trình độ của lương tâm không?
NHĐ: Nhà văn chúng ta đâu có hình thành lý tưởng để mà tuyệt vọng. Một khi không với tới lý tưởng của mình, người ta mới tuyệt vọng. Một con lạc đà muốn băng qua sa mạc đi tìm con đường tơ lụa chẳng hạn, khi thất bại nó mới tự tử. Đằng này con vịt lạch bạch từ ao lên vườn, lại từ vườn xuống ao. Chân trời của nó là viền ao, khát nước cúi cổ xuống uống. Làm sao nó có thể có được cảm giác thất bại về cuộc hành trình băng sa mạc. Hầu hết nhà thơ ở ta là bồng bột đột xuất làm thơ tài tử giống mấy ông hưu trí làm thơ mua vui vậy. Trong họ đâu có hình thành bất cứ cái gì gọi là “sứ mệnh” phải viết văn. Chẳng hạn như Văn hào Lỗ Tấn trở thành cha đẻ của văn học hiện đại Trung Quốc, mới đầu ông hành nghề y, sau ông nghĩ, nếu theo nghề y, giỏi lắm ông cứu được nghìn người, nhưng theo nghiệp văn học ông sẽ cứu được cả vạn tâm hồn. Và ông đã theo đuổi nghề văn như một sứ mệnh.
PV: Này, có lẽ chúng ta dừng ở đây. Có người nói, anh có vẻ cay nghiệt với nền văn học mậu dịch, vì anh không được dùng?
NHĐ: Tôi không được dùng! Cảm ơn đó là ý kiến xác đáng tự bạn đã nói lên. Còn cay nghiệt ư? Tại sao bạn không nghĩ rằng tôi đang nói sự thật? Sự thật dù nó ngọt hay cay, thì cũng đều là sự thật mà. Còn bạn đánh giá tài năng văn học của tôi thế nào?
PV: Tôi biết anh đã ném rất nhiều găng về lý luận, về thơ, cả triết học nữa, cho đến giờ vẫn chưa có người bắt găng chính thức, nếu có chỉ là vài cái comments ẩn tên. Có nhiều người nói “dù sao anh cũng có bóng dáng của một cây bút lớn cả lý luận, cả văn, và thơ. Còn ở những người khác chúng ta vẫn phải đang thắp đuốc đi tìm”.
NHĐ: Vậy thì bạn nên nghĩ tôi là một người bao dung, bởi vì cho đến nay, tôi cũng chưa một lần có được cơ hội đăng một bài thơ trên báo Văn Nghệ, trong khi đó tất cả những người có thơ chọn để đăng trên đó, thậm chí có rất nhiều giải thưởng nữa lại đang biến báo Văn Nghệ thành sọt rác hấp hối bởi chính thứ văn thơ công-nông-binh viết văn bằng cảm xúc tay trái.
PV: Xin hẹn gặp anh lần sau. Chúng ta sẽ bàn thẳng vào bút pháp và tư tưởng của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam.
NHĐ: Tôi rất sẵn sàng. Cám ơn!
Hữu Lý thực hiện 24/11/2012
NHĐ gửi qua email
This entry was posted on 25/11/2012, in Báo chí.

Chặn đường kêu oan

Huỳnh Văn Úc
.
Dưới thời vua Tống Nhân Tông (trị vì từ năm 1022 đến năm 1063) Trần Thế Mỹ là một thư sinh nghèo khó ở Hồ Nam, có vợ là Tần Hương Liên và có hai đứa con. Tần Hương Liên đầu tắt mặt tối làm lụng nuôi Trần Thế Mỹ ăn học. Đến kỳ thi Trần Thế Mỹ lên kinh đô ứng thí và đỗ trạng nguyên. Tân khoa trạng nguyên Thế Mỹ được thái hậu kén làm phò mã. Sau khi trở thành phò mã Trần Thế Mỹ muốn quên đi quá khứ, ruồng bỏ vợ con. Tần Hương Liên dẫn hai đứa con vượt ngàn dặm đường lên kinh đô tìm chồng. Trần Thế Mỹ chẳng những không nhận vợ con mà còn sai người đuổi theo tính kế giết hại. Tần Hương Liên uất ức nên giữa đường chặn kiệu của Bao Công đệ đơn kêu oan. Vụ việc của Tần Hương Liên được Bao Công thăng đường xét xử để cuối cùng công lý được sáng tỏ.
Ngày 7/9/2012 ở huyện Di Lương tỉnh Vân Nam xảy ra trận động đất gây thiệt hại cả về người và tài sản. Hàng nghìn ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn, hàng chục vạn ngôi nhà khác bị hư hại. Sáng sớm 8/9/2012 Thủ tướng Ôn Gia Bảo có mặt tại hiện trường thăm hỏi những người bị thương và đích thân chỉ huy các hoạt động cứu hộ. Chưa thật yên tâm với công việc khắc phục hậu quả động đất nên trung tuần tháng 11/2012 Thủ tướng Ôn Gia Bảo lại về thăm huyện Di Lương. Ngày 22/11/2012 tờ Thượng Hải Nhật báo (Shanghai Daily) đưa tin trong chuyến thăm này cô Lương Vĩnh Lan 29 tuổi cùng ba nông dân khác đã quỳ xuống đường chặn đường đoàn xe 30 chiếc chở ông Ôn Gia Bảo để đệ đơn đòi công lý cho một vụ cưỡng chiếm đất đai. Chuyện xảy ra với cô Lương Vĩnh Lan có nội dung na ná giống như nhiều vụ cưỡng chế đất tại Trung Quốc ( và tại Việt Nam). Chính quyền lấy đất nông nghiệp từ tay nông dân để trao lại cho dự án xây cất nhà máy và đền bù với giá 28 nghìn tệ một mẫu ( 1 tệ = 3.300 VND), thấp hơn giá đất ở làng bên (50 nghìn tệ một mẫu). Sau khi quỳ xuống đất dược 5 phút, không rõ tiếng kêu oan của cô Lương Vĩnh Lan đã thấu đến tai Thủ tướng Ôn Gia Bảo hay chưa thì công an đã ập đến còng tay cô và ba người khác vì tội “phá rối trật tự công cộng”. Họ bị giam giữ bảy ngày, bị phạt 1000 tệ và được thả ra vào ngày 20/11/2012.
Hành động của cô Lương Vĩnh Lan có gì đó giống với Tần Hương Liên. Chỉ có điều khác nhau, khác nhau rất căn bản. Đó là người ngồi trên chiếc xe bị chặn đường kêu oan là Ôn Gia Bảo chứ không phải là Bao Công.
H.V.U
Tác giả gửi qua email
This entry was posted on 25/11/2012, in Báo chí.

Bài tham gia cuộc “thi” dịch văn xuôi ra thơ Đường luật (phần 4)

Bài tham gia cuộc “thi” dịch văn xuôi ra thơ Đường luật (phần 4)

.

Hôm nay nhà cháu lại tiếp tục đọc thơ của các bác gửi tới.

21. Sau khi đọc các lời bình và ngâm cứu lại, bác Nguyễn Tâm Thiện viết thêm bài:

Yên Trung lặng lẽ chốn cao san
Chỉ tiếng chim gù vọng chứa chan
Óng ánh lòng hồ trăng vãi
Ì ầm ĐỈNH núi suối tuôn tràn
Ngàn thông sừng sững xua mây toả
Lũ cá lao xao hất sóng lan
Một bước lạc vào tiên cảnh thực
Biết đâu phú quý với cơ hàn ???

Đọc tiếp