Archive | 18/11/2012

Trở lại Điện Biên

Nguyễn Văn Khải – Ông già ozon
Những ghi chép vội vã đúng sự thật trong năm ngày (04/11-09/11) trở lại huyện Điện Biên cùng các thành viên “ Cơm có thịt” đến với các trường mầm non nhiều khó khăn và trường THPT chuyên Lê Quí Đôn – TP Điện Biên.
1. Đừng để trẻ ngoan lớn lên thành kẻ hư.
Sau vài trăm lần bị hất lên,xô ngang kéo dọc, xuống đi bộ hoặc đẩy xe, khi xe dừng lại để phó phòng giáo dục huyện Lê Văn Chình xuống trình báo với trạm kiểm soát biên phòng, tôi ghé vào một điểm trường mầm non Hác Tao, ở ngay bên cạnh cửa xe. Một ngôi nhà nhỏ, tường bằng đất trống trên, hở dưới, không cửa ra vào, không có học trò vì đã tới trưa, các cháu tiểu học về nhà ăn cơm.
Các cửa sổ và cửa ra vào của điểm trường mầm non Hác Tao đều đóng kín vì mưa to. Chúng tôi ghé vào bếp của điểm trường – đột xuất, không báo trước. Anh Khôi mở nắp nồi gang cười nhìn động vào thịt đã được nấu kĩ trong đó. Còn tôi vội quay cảnh anh bảo vệ đang rửa rau. Vì không nằm trong kế hoạch, anh Khôi chỉ mang được hai gói bánh kẹo vào trong lớp. Anh đưa cho hai cháu lớn và nói: Các cháu chia cho các bạn đi. Không hiểu vì mệt hay vì cảm động mà tay tôi hơi run run khi quay cảnh hai cháu xé vỏ hộp, lấy bánh kẹo trao cho các bạn đứng thành hàng ngang rất trật tự.
Khi xe tời điểm trường Mường Nhà, đúng vào lúc các cháu đang ngồi thành hai dãy đối diện, ở giữa là bàn composit còn mới, màu rất đẹp,đợi các cô chia cơm. Tôi và cô Quế, cán bộ phòng giáo dục cùng làm với các cô giáo vì đã quá muộn. Chẳng hiểu thế nào, một cô giáo phát hiện ở gần cuối dãy bàn có một cháu chưa có cơm. Tôi cười,nói với các cháu: Có một bạn chưa có cơm và thịt, mỗi chúng mình bớt một chút cho bạn nhé. Tất cả giơ bát cơm để cô Quế lấy bớt đi cho bạn chưa có cơm.
Tiếp tục đi về phía Tây Bắc, xe lắc lư, mỗi lúc một mạnh hơn. Còn tôi lim dim đôi mắt, như đang nằm trên thuyền giữa biển ngày nào, nhìn bầu trời trong xanh sâu không đáy, mây bông trắng chầm chậm trôi. Tôi nhớ lại cũng khoảng giờ này ngày hôm trước, sau khi mắc xong đèn LED ở phòng của các cháu, phòng công cụ, nhà bếp, nhà xe, nhà vệ sinh mà điện năng dùng cho chúng do pin mặt trời cung cấp. Đấy là 4 panel pin mặt trời có công suất 65W mỗi cái của anh Đăng Toản tặng các cháu. Ở đỉnh núi cao này hầu như lúc nào cũng có ánh sáng và ánh nắng có cường độ lớn hơn dưới xuôi vì khi trời trong trẻo, mây mù đều ở phía dưới. Nên hiệu điện thế hở mạch và cường độ dòng đoản mạch đều cao hơn giá trị cực đại có ghi ở sau tấm pin. Còn đèn LED được chế tạo từ các LED có hiệu suất phát quang 120-130 lumen/W vừa nhận được từ nước ngoài gửi về – ở chợ Giời Hà Nội, loại LED 1W hiệu suất phát quang 80 lumen/W giá 10.000đ/LED. Cho nên trong căn phòng 30 mét vuông có 4 đèn mắc ở độ cao 2m trên song sắt cửa sổ chiếu xuống đủ để các cháu vui chơi, ca hát. Cho tới bây giờ bên tai tôi vẫn còn văng lại tiếng của một cháu gái ghé vào tai tôi khẽ nói: “Ông Ôzôn ơi cháu muốn buổi tối nhà cháu sáng đèn”. Chính tôi việc đi xe máy vuợt qua đưòng đất lưng mèo, đá tai mèo đầy ổ voi, ổ rồng đem pin mặt trời và đèn LED lên đây là để các cháu quen dần với ưng dụng công nghệ cao trong cuộc sống. Tôi xoa đầu cháu: “Ông sẽ giúp cháu lắp như thế này ở bản của cháu”. Mấy ngưòi nhình tôi vẻ ngạc nhiên. Tôi cưòi 11 năm nữa cháu học lớp 7 ông sẽ dạy cháu làm đèn LED và lắp hệ chiếu sáng băng pin mặt trời, thuỷ điện mini như vừa dạy cho thầy trò ở Lào Cai
Nhìn các cháu nằm ngủ theo ba dãy, tôi chợt nhớ đến các trường học ở Hà Nội, nhiều trường đẹp hơn, nhiều đồ chơi hơn, nhưng không thể có được không khí trong lành như ở đây và đặc biệt khi trời lạnh, ở đây chỉ có chăn chiên, còn ở Hà Nội là chăn bông. Một cháu mơ gì đó đạp tung chăn ra. Một bạn từ xa ngóc đầu nhìn thấy. Tôi nói khẽ: “Cháu ra đắp chăn lại cho bạn đi”. Cháu gái từ từ ra đắp chăn cho bạn rồi lại về phòng ngủ tiếp.
Hàng ngày,tôi thường gặp không ít người lấy việc giúp người khác là niềm vui. Nhưng trên bất kì đoạn đường nào, bất kí ở công sở nào, bất kì địa phương nào cũng đều thấy những kẻ vị kỉ, hoặc sỗng sượng,trắng trợn, lừa đảo, doạ dẫm hoặc thơn thớt những lời hoa mỹ, đạo đức giả, tranh ăn, cướp đoạt của người khác. Phải tiếp tục làm gì để những cháu bé ở vùng núi Điện Biên cũng như ở mọi miền sống thành thật, biết nhường nhịn, thương yêu, giúp đỡ người khác?
2. Của các nhà khoa học Ba Lan đấy
Ngài đại sứ Ba Lan gặp gỡ các cụư nghiên cúư sinh Việt Nam ở Ba Lan nhân dịp quốc khánh Ba Lan-09-11-2012.JPG
Đợt bồi dưỡng “Thí nghiệm Vật lí hiện đại trong trường phổ thông” cho 100 trường THPT của Sở GDĐT Hà Nội vừa chấm dứt, tôi lại gấp rút cùng học trò chuẩn bị các dụng cụ thí nghiệm để lên các tỉnh vùng núi phía Bắc và Tây Bắc. Trước hết tôi trở lại Lào Cai trong ba ngày để hướng dẫn giáo viên và học sinh trường chuyên Lào Cai và một số giáo viên các trường khác làm lấy dụng cụ, linh kiện cho các bài thí nghiệm về nhiệt – điện – từ – quang lượng tử.
Ngay phút đầu tiên bước vào lớp tôi đã bị một gáo nước lạnh dội vào gáy: hầu hết
các đồng hồ đo điện chỉ thị bằng kim hoặc hiện số mà trường đã mua hai đợt, có loại giá tới 800.000đ/cái đều bị hỏng hết. May sao những đồng hồ hiện số tôi đã giúp trường mua với giá 60.000đ/cái từ năm 2001 vẫn hoạt động tốt – loại đồng hồ này đang được bán rẻ đi vì ít người mua nên ở chợ Giời Hà Nội giá 50.000đ/cái. Cùng với số đồng hồ tôi mang lên đủ để 25 nhóm thí nghiệm một lúc.Giống như ở Hà Nội nhiều thầy cô thật thà nói với tôi:
“chúng em được học về pin nhiệt điện nhưng chưa nhìn thấy nó lần nào”. “Chỉnh lưu dòng điện hai chiều thành một chiều là hiện tượng rất phổ biến trong cuộc sống, được dùng trong rất nhiều thiết bị điện nhưng cả mấy năm học trong trường Đại học cũng như từ khi ra dạy đã gần ba mươi năm bây giờ em mới nhìn thấy điot chỉnh lưu, được dùng nó để tạo mạch cầu chỉnh lưu”. Một giáo viên tỏ ra bực tức: “chả hiểu mấy ông biên soạn chương trình thế nào lại đẩy bài chỉnh lưu dòng điện xoay chiều sang bên kĩ thuật công nghiệp. Dạy vật lí mà không dạy chỉnh lưu thì dạy cái gì. May là em cũng không biết cái diode chỉnh lưu đó là gì nên đỡ phải dạy mò”.
Do có 25 cặp nhiệt điện nên đủ để 23 nhóm thực hành. Tôi cho so sánh kết quả đo khi dùng các cặp nhiệt điện ấy của Ba Lan dài 1,2m và của Hungari có vỏ bọc là hợp kim dài 25cm và của Trung Quốc dài 15cm chỉ đo được tới 150 độ C. Rất mừng là những câu hỏi tôi đưa ra đã được các cháu tranh nhau trả lời. Thích nhất là các cháu biết rằng :nếu dùng cặp nhiệt điện càng dài và độ lạnh được giữ ở một nhiệt độ cố định như nước đá đang tan. Thì kết quả đo càng chính xác. Các giáo viên hỏi có thể mua được chúng ở đâu. Do còn giảng nhiều nên tôi chỉ trả lời ngắn gọn: “Của các nhà khoa học Ba Lan cho đấy”
Thí nghiệm về pin nhiệt điện-dùng cặp nhiệt điện của Ba Lan mang về Việt Nam từ 1985
Sau khi bât công tắc điện tôi đưa tay vào giữa một nguồn sáng màu xanh và một vật có che nhựa trắng, còi bỗng rú lên.Tôi rút tay lên còi không kêu nữa, một học trò nhanh nhẩu nói: “Máy báo động bằng ánh sáng đấy mà!” Tôi hỏi về nguyên lí hoạt động của máy, học sinh này cười bẽn lẽn, tôi liền giảng về quang trở, cấu tạo, nguyên lí hoạt động, phạm vi ứng dụng. Vật đã rơi tự do thì ở đâu cũng rơi. THPT chuyên Lào Cai và nhiều trường khác đều lắp được đèn LED 1,8W được tạo từ các LED có công suất 0,06W dùng nguồn 12V và công tắc quang – khi có ánh sáng dọi tới nhiều đèn tắt, trời càng tối, đèn càng sáng. Các thầy cô lại hỏi để định mua cho trường quang trở để làm thí nghiệm với học sinh, tôi trả lời: “Loại rẻ tiền, loại chất lượng thấp đang bán rất nhiều ở chợ Giời – Hà Nội, Sài Gòn, còn loại cao cấp có thể làm lạnh bằng ni tơ lỏng hoặc hê-li lỏng là của các nhà khoa học Ba Lan đấy”
Thí nghiệm hệ chiếu sáng gồm:công tắc quang và đèn LED do thầy trò Lào Cai tự lắp
Thú vị nhất là khi các thầy trò làm thí nghiệm về pin mặt trời: đo các thông số quang điện của pin. Tùy theo thời điểm lúc thì phải chạy đến chỗ có ánh nắng mặt trời, lúc thì phải vào trong râm. Người ghi kết quả, người hỏi kết quả làm rộn rã cả một khu trường. Không gì vui bằng học sinh nạp điện từ pin mặt trời vào ắc quy, sau đó dùng công tắc quang để làm sáng đèn LED. Rất nhiều học sinh tỏ rõ niềm vui của mình: “có thể dùng điện mặt trời,điện gió,đặc biệt là thủy điện mini đặt bên dòng suối chảy gần nhà để thắp sáng đèn LED cho mọi người.Với giá thành rất thấp do tự lắp lấy các mạch điện và đèn LED.mọi người lại hỏi có thể mua được chúng ở đâu? Tôi cười: “Hãy đem mận Tam Hoa, rau cải Mèo … đổi lấy đôla rồi mua linh kiện, kể cả từ Mỹ đều có thể thực hiện dễ dàng”
Các đồ thí nghiệm tôi đã dùng hôm ấy được mang về từ Ba Lan vào tối 27 tết năm 1985 . Xe comangca của đơn vị đến sân bay Nội Bài đưa tôi về Viện kỹ thuật quân sự cất đồ thí nghiệm xong, tôi chỉ mang có hai cái áo trẻ em về nhà: một cho con của đại úy Phạm Đình Huấn ,nhân viên của phòng tôi phụ trách, cái thứ hai cho con trai tôi. Thế nhưng đến mồng ba tết ở tường nhà vệ sinh đã có dòng chữ: “Tiến sĩ Nguyễn Văn Khải mang danh khoa học đậy nghề đi buôn”….
Hai năm sau, tôi chuyển nghành,mang theo những đồ không ai cần dùng theo. Từ đó các trường phổ thông từ Lào Cai, Hà Giang tới Cà Mau, Lâm Đồng được làm những bài thí nghiệm mà không giáo viên nào có thể làm được dù đây là yếu tối cần và đủ trong giảng dạy môn Vật lí. Theo kế hoạch đã định của sở giáo dục đào tạo Điện Biên, ban giám hiệu trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, chiều mồng 7/11/2012 tôi sẽ bắt đầu lên lớp từ 1h30’ chiều. Do bị lầy lội, tắc đường núi, mãi tới 4h42’ chiều tôi mới bước vào lớp còn học sinh thì không chịu về dù đã 19h30’. Tất cả thầy trò chuyên lý đều đề nghị tôi tiếp tục hưóng dẫn họ làm thí nghiệm điện quang mà máy đo các thông số quang điện đèu được dùng ở Việt Nam từ hai mươi bảy năm về trước. Còn ở Điện Biên mới được mười một năm. Ba giờ sáng 17/03/2001 theo lời mời của giám đốc sở giáo dục Lai Châu tôi đã có mặt ở Điện Biên. Sau 13 lần xuống xe, đẩy xe chở đày đồ thí nghiệm lội đường lầy. Một trăm năm mươi học sinh và giáo viên của các trường trong tỉnh đã tới thực hành thí nghiệm bằng các đồ thí nghiệm tôi mang đến.
. Giống như đối với các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, sau hai giờ ruỡi hướng dẫn thí nghiệm tôi đọc năm đề thi vật lý quốc tế, do giáo sư Đàm trung Đồn đưa cho tôi, để các cháu giải. Sau nủa tiếng các cháu giải được bốn bài gần như trọn vẹn. Một số đồ dùng thí nghiệm mà tôi lại đem trở lại dạy ở Điện Biên lần này là quà của các nhà khoa học Ba Lan đã công tác tại học viện quân sự Vacsava, Đại học bách khoa Vacsava, Đại học tổng hợp Vacsava, Viện vật lí thuộc viện hàn lâm khoa học Ba Lan trao tặng tôi vì họ muốn có người Việt Nam sang làm việc với họ như tôi đã làm với họ.
NVK
Tác giả gửi qua email
Advertisements
This entry was posted on 18/11/2012, in Báo chí.

Trở lại Điện Biên

Trở lại Điện Biên

Nguyễn Văn Khải – Ông già ozon

  .

Những ghi chép vội vã đúng sự thật trong năm ngày (04/11-09/11) trở lại huyện Điện Biên cùng các thành viên “ Cơm có thịt” đến với các trường mầm non nhiều khó khăn và trường THPT chuyên Lê Quí Đôn – TP Điện Biên.

1. Đừng để trẻ ngoan lớn lên thành kẻ hư.

Sau vài trăm lần bị hất lên,xô ngang kéo dọc, xuống đi bộ hoặc đẩy xe, khi xe dừng lại để phó phòng giáo dục huyện Lê Văn Chình xuống trình báo với trạm kiểm soát biên phòng, tôi ghé vào một điểm trường mầm non Hác Tao, ở ngay bên cạnh cửa xe. Một ngôi nhà nhỏ, tường bằng đất trống trên, hở dưới, không cửa ra vào, không có học trò vì đã tới trưa, các cháu tiểu học về nhà ăn cơm. Tiếp tục đọc

Lời chia buồn

Cụ Nguyễn Bá Phụng (1927-2012)
.
Được tin cụ NGUYỄN BÁ PHỤNG
Thân sinh của Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà
Đã từ trần hồi 16h50 ngày 17 tháng 11 năm 2012
(tức ngày 4 tháng 10 năm Nhâm Thìn)
Xin thành kính phân ưu với Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà và Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ cùng gia quyến.
Xin dâng lời cầu nguyện cho anh linh Cụ Nguyễn Bá Phụng thanh thản về cõi vĩnh hằng.
***
Cụ Nguyễn Bá Phụng sinh năm 1927, mất 2012 hưởng thọ 86 tuổi
Cụ là học viên khóa 2 Trường Lục quân, biệt động nội thành Hà Nội. Cụ nguyên là cán bộ Cục Đo lường – Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước.
Lễ viếng từ 09h30 đến 11h00, Thứ Ba ngày 20 tháng 11 năm 2012
tại Nhà tang lễ thành phố Hà Nội, 125 Phùng Hưng, Hà Nội.
An táng tại Đài Hóa thân hoàn vũ cùng ngày.
NTT blog
This entry was posted on 18/11/2012, in Báo chí.

Lời chia buồn tới Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà và gia quyến

Lời chia buồn

.

Cụ Nguyễn Bá Phụng (1927-2012)

.

Được tin cụ  NGUYỄN BÁ PHỤNG

Thân sinh của Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà

Đã từ trần hồi 16h50 ngày 17 tháng 11 năm 2012

(tức ngày 4 tháng 10 năm Nhâm Thìn)

Xin thành kính phân ưu với Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà và Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ cùng gia quyến.

Xin dâng lời cầu nguyện cho anh linh Cụ Nguyễn Bá Phụng thanh thản về cõi vĩnh hằng.

***

Cụ Nguyễn Bá Phụng sinh năm 1927, mất 2012 hưởng thọ 86 tuổi

Cụ là học viên khóa 2 Trường Lục quân, biệt động nội thành Hà Nội. Cụ nguyên là cán bộ Cục Đo lường – Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước.

Lễ viếng từ 09h30 đến 11h00, Thứ Ba ngày 20 tháng 11 năm 2012
tại Nhà tang lễ thành phố Hà Nội, 125 Phùng Hưng, Hà Nội.

An táng tại Đài Hóa thân hoàn vũ cùng ngày.

NTT blog

Chị Thìn

Giải Ba cuộc thi truyện ngắn 1990 – 1991 Báo Văn nghệ
NGUYỄN QUANG HUY
Tôi còn nhớ, năm tôi học cuối cấp phổ thông, cũng là năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại. Nhà trường bắt học sinh cuối cấp phải học trọ. Tôi cũng như lũ bạn cùng lớp nháo nhào đi tìm nhà trọ. Những nơi gần thì hết, chỉ còn những nơi xa. Nói xa, nhưng cũng chỉ cách trường một cây số là cùng.
Tôi đang nghiêng ngó, thì chợt có tiếng hỏi:
– Em tìm nhà ai thế em?
Tôi ngoái lại, thấy một chị trạc ngoài hai mươi, tầm thước, vẻ mặt hiền lành. Ngay cái giọng nhẹ nhàng khi hỏi tôi, cũng nói lên chị là người như thế. Tôi rụt rè:
– Dạ… em đang tìm có nhà nào cho trọ học…
Chị xoa đầu tôi thân mật:
– Ồ, bé tẹo thế này mà đã học lớp mười rồi cơ à? Này, chị bảo, đi theo chị!
Tôi bé thật. Mười sáu tuổi, nặng chưa đến bốn chục cân, cao chưa đến một thước rưỡi. Lại còn cái vẻ bề ngoài nữa chứ : quần âm lịch, áo đông xuân, tất cả đều màu nâu, đã sờn cũ, lại đeo một cái túi “dết” căng phồng những sách vở, người vẹo đi.
Ngõ hẹp quanh co. Thỉnh thoảng, chị lại phải kéo vai tôi cho nghiêng người, hai chị em mới đi lọt. Tôi nhìn thấy cái áo nhuộm gụ chị mặc có hai miếng vá rất khéo ở vai, còn cái quần đen đã ngả sang màu “cò lửa”. Chắc chị cũng nghèo.
Ðến một căn nhà nhỏ, chị xăm xăm đi trước, nâng phên liếp lên, dựng nó ở chái, ngoảnh lại bảo tôi:
– Ðây, nhà chị đây! Nếu em không chê nghèo, thì ở đây cho nó có chị em.
Tôi nhìn thoáng: tường bằng đất nện, không có buồng, mái rạ đã mòn. Một gian bếp bé tẹo, gọi là lều thì đúng hơn. Trong nhà chỉ kê một cái chõng tre, một cái bàn uống nước cũng bằng tre, hai cái ghế dài bằng tre ghép… nghĩa là tịnh không có một thứ gì bằng gỗ có mặt ở ngôi nhà này.
Chị xuống bếp lấy một cái ấm đất, hai cái bát, rót đầy hai bát nước nụ vối:
– Uống đi em…
Rồi, như đón được cái nhìn dò hỏi của tôi, chị lặng lẽ:
– Anh đi bộ đội, hai năm rồi…
Chị tên là Thìn, lấy năm sinh Canh Thìn làm tên, cho dễ nhớ. Lúc chị em tâm sự, chị hay chép miệng:
– Chị tuổi Thìn, lại “Canh” nữa, phải qua hai lần đò mới xong… “Canh côi Mậu quả” mà em! Mà chắc gì lần đò thứ hai đã trót lọt…
Giọng chị lúc ấy thật trầm, như một tiếng thở hắt ra. Tôi không biết nói làm sao, chỉ thấy thương chị, thật thương…
Chị Thìn đối với tôi như một người chị cả tần tảo. Nào có nhiều nhặn gì cho cam: hai bữa cơm rau dưa, ăn còn đói. Nhiều buổi trưa nắng, chị đi bắt cua, tát cá về, mặt mày đỏ gay, lấm tấm bùn, cái áo gụ bạc khoang mồ hôi.
Chị cười hồn hậu:
– Có thêm tí cua, tí cá, em ăn ngon miệng, học cho sáng dạ… Chị thì chịu thôi! Chị dốt lắm!
Chiếc chõng tre duy nhất, chị nhường cho tôi. Còn chị trải chiếu dưới đất. Nói là chiếu, thực ra là mấy mảnh bao manh cói, tháo ra, ghép vào. Mùa đông, chị lấy rạ, đánh thành tranh, lót ổ cho cả hai chị em. Chị nằm ổ dưới đất, đắp thêm hai bao manh cói. Còn tôi, nằm chõng, may có một chiếc chăn sợi cũ. Tối tối, chị lau bóng đèn, đổ dầu, khêu bấc, chuẩn bị chỗ cho tôi học bài, nhưng thường chỉ khi nào tôi khêu nhỏ ngọn dèn, đi ngủ, thì chị mới chịu ngủ. Không biết những lúc tôi ngồi học, chị ngả lưng trên cái ổ rạ, không dám trở mình, thì chị nghĩ gì…
Cũng có khi, chợt một ý nghĩ buột ra:
– Này, em đã là cậu Tú rồi đấy! Ngày xưa, cậu tú là oai lắm, tha hồ sướng. Còn học xong đại học, đã là ông Cử… Không biết lúc ấy, em có quên chị không?…
Kèm theo, là một tiếng thở dài, một cái chép miệng của chị.
Suốt gần năm tháng trời, chị Thìn thay mẹ tôi. Có mấy lần, mẹ tôi sang nhà chơi với chị, và chị cũng thế. Chị nhận xét:
– Nhà em nghèo, nhưng có nền nếp. Ðời em chả sướng đâu!…
Cả cuộc đời tôi, câu ấy thật nghiệm. Sao chị lại có thể có được một nhận xét như vậy?
Chị Thìn ốm. Ðấy là vào những ngày giữa đông. Thương chị lắm, nhưng tôi chẳng biết làm gì. Cháo thì sượng, rau muống luộc thì vừa sống vừa oi khói. Chị cố ăn cho tôi vui lòng, miệng không ngớt khen ngon, mà chị đâu có nuốt được, chỉ trệu trạo vài miếng. Những ngày ấy, tôi dứt khoát bắt chị phải ngủ ở cái chõng tre, còn tôi nằm dưới đất.
Năm ấy, sao mà rét.
Một đêm, khi tôi khêu nhỏ ngọn đèn dầu, chui vào ổ rạ, cố ngủ nhưng không ngủ nổi, thì nghe tiếng chị Thìn:
– Hà ơi… em có lạnh không?
– Cũng lạnh chị ạ.
Chị lần mò một lúc, tháo chiếc màn cũ, ôm chiếc bao manh, bước xuống chỗ tôi nằm:
– Chị cũng không ngủ nổi. Thôi, hai chị em nằm chung cho ấm.
Tôi dịch vào, lấy chỗ cho chị. Lần đầu tiên, tôi nằm chung với một người đàn bà xa lạ. Dầu rằng đó là chị Thìn, ngườl tôi yêu quý, kính trọng như chị cả, như mẹ, tôi vẫn thấy có một cái gì đó khang khác. Quả là hai người có ấm hơn. Dần dà, tôi thiếp đi trong lời thủ thỉ của chị kể về người chồng, những lời than thở của một người vợ có chồng đi bộ đội, về thân phận người đàn bà một thân một mình mà trong nhà không có người đàn ông…
Trong giấc ngủ ngon lành và nhẹ nhõm, tôi vẫn cảm nhận được vòng tay chị Thìn nâng đầu tôi lên, cho gối vào cánh tay tròn lẳn của chị, những ngón tay thô ráp cực nhọc của chị vuốt tóc tôi ra sao, và chị xoay mặt tôi về phía chị, cái hơi ấm nồng nàn tôi hít thở tỏa ra từ ngực chị. Tôi chỉ thấy yên ổn trong tình thương rất tự nhiên của một người như chị, kể cả những cử động của bàn tay chị đang vuốt nhè nhẹ khắp người tôi…
Chợt tôi choàng tỉnh, bởi vòng tay chị ôm tôi chặt hơn, và bàn tay táo bạo, da diết hơn. Tôi vùng dậy, còn chị thì cố níu kéo giữ tôi lại:
– Em đi đâu… Chị sẽ không làm thế nữa… Ngoài lạnh lắm…
Tôi vẫn cố vùng dậy bằng được. Tôi thấy mình bị xúc phạm, và còn hơn thế nữa. Có một cái gì đổ vỡ, một cái gì mất mát vừa xảy đến với tôi. Tôi khêu to ngọn dèn, vội vàng lấy sách ra học bài, mặc những lời van nài của chị. Cả khi chị dậy, len lén lấy chăn quàng cho tôi, tôi cũng vùng vằng hất ra. Cứ thế, chị ngồi trên ổ rạ, khóc rấm rứt. Mà chị thì đang ốm…
Sáng tinh mơ, tôi đã gói ghém chăn màn, sách vở. Chị không dám ngăn, cứ đứng quanh quẩn, tần ngần. Rồi chị hỏi:
– Em bỏ đi thật à? Em giận chị thật à?
– Hôm nay, nhà em có giỗ, em phải về…
Bỗạng, chị xô đến tôi, nắm chặt hai cánh tay tôi, rồi chị gần như quỳ xuống, ôm hai chân tôi:
– Em tha lỗi cho chị, chị xin em… chị lạy em… em đừng bỏ đi… Chị xấu hổ lắm! Nếu em bỏ đi, suốt đời chị sẽ phải xấu hổ! Em thương chị, em đừng đi… Chị xin em…
Tôi vẫn dứt khoát đi, vừa đi vừa khóc, như đứa trẻ bị đòn oan. Còn chị, ngồi bệt dưới đất, một tay níu lấy cái chõng tre, một cánh tay đưa ngang miệng, mà tiếng khóc vẫn cứ bật ra, cay đắng.
Tôi lại tìm nhà trọ khác, thật xa. Còn chị Thìn, cũng không lần nào đến cổng trường tìm tôi, dẫu từng có lúc, tôi thầm mong như vậy.
Bốn năm học đại học, cũng là bốn năm chiến tranh phá hoại. Tôi không có cơ hội nào đề tìm về nhà chị, để gặp chị. Cái giận dữ con trẻ nguôi dần, nguôi dần. Còn cái băn khoăn, cái tự trách mình cứ lớn dần trong tôi, khi tôi ngày càng nhận ra sự phong phú cũng như phức tạp, sự trần tục cũng như thiêng liêng của tình cảm con người. Và, không hiểu sao, mỗi khi nghĩ về chị, tôi càng thấy mình có một điều gì không phải. Và điều đó không bao giờ chuộc lại được…
Cho đến lần cuối cũng tôi gặp lại chị khi hai chị em đã xa cách nhau bảy năm rưỡi trời. Ðó là năm thứ ba khi tôi ra trường, được nhận công tác và xin nghỉ phép về quê.
Tôi tìm đến nhà chị Thìn. Nhà đã có chủ khác ở. Nó khang trang hơn. Bà chủ nhà nói rằng chị Thìn đã đi lấy chồng. Chồng chị, hy sinh cách đây hơn ba năm. Nói là lấy chồng, thực ra làm lẽ thứ ba một người trong làng. Hai vợ trước của ông ta, bà cả thì chết, bà hai thì dở người. Ông ta hơn chị gần hai chục tuổi, tiếng là vợ lẽ, nhưng quá con ở…
Nghe bấy nhiêu chuyện, đầu óc tôi choáng váng. Thế ra bảy năm đã đủ thời gian để định đoạt số phận một con người.
Tôi tìm đến nhà mới của chị Thìn theo lời chỉ dẫn. Tôi gọi to. Một ông “đồ tể” cởi trần chạy ra, gắt:
– Thìn nào? Cậu là ai?
Tôi trình bày. Ông chõ vào phía nhà bếp:
– Cô Thìn, có người hỏi..
Tiếng chân đất bước vội vàng. Chị Thìn! Người tôi run lên:
-Chị Thìn, chị không nhận ra em sao?
Chị vẫn ngơ ngác. Chị già đi mau quá. Mới bảy năm…
– Ối, Giời Phật ơi! Cậu Hà… Cậu còn nhớ chị à? Cậu đã nhớn thế này rồi à?
Sau đó, thì chị cuống quýt:
– Vào đây! Vào đây em!… Ðây là cậu Hà, trọ học nhà em năm xưa… Bây gì em làm gì rồi?
Tôi kể cho chị nghe. Còn chị cứ xuýt xoa. Ông “đồ tể” dần dần cũng có vẻ nể, đi pha nước mời tôi, nhắc:
– Cô hỏi gì mà hỏi lắm thế! Ði xem mua cái gì về ăn!
Lúc bấy giờ, chị Thìn mới sực tỉnh, vội đưa tay quệt ngang mặt, chùi chùi vào ống quần. Nước mắt và bụi tro trên mặt làm mặt chị nhem nhuốc, trông lại càng già đi. Chị ăn vận thì vẫn thế: chiếc áo gụ sờn và chiếc quần đen đã ngả sang màu “cò lửa”.
Suốt bữa ăn, chị cứ gắp cho tôi, y như ngày xưa. Tôi không dám nhìn ánh mắt van nài của chị. Chị hỏi tôi về công việc, tôi chỉ đáp qua loa. Nhưng sau, tôicố nói có ngành ngọn, có phần “bốc” một tí, khi chợt hiểu ràng chị tự hào về tôi và đấy là cái tự hào hiếm hoi để “mặc cả” với ông chồng “đồ tể”.
Ông chồng chị cứ nằng nặc giữ tôi lại qua đêm, nhưng tôi chối từ. Còn chị, không dám ra mặt vồn vă, mặc dù trong thâm tâm, tôi biết chị muốn nói với tôi nhiều chuyện, muốn kể với tôi tất tật những gì chị đã nếm trải hơn bảy năm qua.
Tôi xin phép về. Chị tiễn tôi đi. Tôi đoán có lẽ là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, chị có đủ lý do để dám tiễn một người thân, từ khi về làm lẽ ông “đồ tể”.
Chị hiểu tôi đã biết mọi chuyện, nên chị không hề nhắc lại vì sao chị phải đến ở nhà này. Và tôi cũng không dám… Ðến một ngõ lội, tôi đưa tay cho chị:
– Khéo kẻo ngã, chị ạ!
Chị cứ nắm mãi tay tôi, rồi dừng hẳn lại, khẽ khàng:
– Chị tiếc cái hồi chị em mình ở với nhau…
Vậy là chị hiểu! Thời gian đã sàng lọc tất cả, chỉ để lại những gì cần phải nhớ!
Chợt chị thở dài:
– Em đừng trách chị. Chị biết làm thế nào được? Cũng may mà còn có miếng ăn, em ạ… Liệu em có về với chị được luôn không?
Chi khóc, gục vào vai tôi. Tiếng khóc tiếc nuối, cay đắng và cam phận. Bây giờ, tôi là một người lớn, là đàn ông. Còn chị, là một cô bé con, giống như nàng Lọ Lem trong chuyện cổ tích nào đó…
– Thôi, chị ạ! Cái số phận nó đã như thế…
Sao tôi lại có thể vô duyên đến như vậy? Mà tôi có còn cách nào khác để giằng chị ra khỏi hiện tại nữa đâu?
Chúng tôl chia tay nhau. Chị Thìn giúi vào túi áo tôi một gói:
– Em cầm tiêu tạm… Chị phải về…
Rồi chị quày quả bỏ đi như chạy, không ngoái lại…
Hà Nội, 18-4-1991

Chị Thìn

Chị Thìn

Giải Ba cuộc thi truyện ngắn 1990 – 1991 Báo Văn nghệ

NGUYỄN QUANG HUY

.

Tôi còn nhớ, năm tôi học cuối cấp phổ thông, cũng là năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại. Nhà trường bắt học sinh cuối cấp phải học trọ. Tôi cũng như lũ bạn cùng lớp nháo nhào đi tìm nhà trọ. Những nơi gần thì hết, chỉ còn những nơi xa. Nói xa, nhưng cũng chỉ cách trường một cây số là cùng.

Tôi đang nghiêng ngó, thì chợt có tiếng hỏi:

– Em tìm nhà ai thế em?

Tôi ngoái lại, thấy một chị trạc ngoài hai mươi, tầm thước, vẻ mặt hiền lành. Ngay cái giọng nhẹ nhàng khi hỏi tôi, cũng nói lên chị là người như thế. Tôi rụt rè:

– Dạ… em đang tìm có nhà nào cho trọ học…

Tiếp tục đọc

Cụ Lê Hiền Đức thăm chị Trần Ngọc Anh

Ngày 17/11/2012, cụ lê Hiền Đức đã đến thăm bà Trần Ngọc Anh tại bệnh viện Xanh Pôn
Chị Trần Ngọc Anh là dân oan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Chị nằm trong số dân oan bị hốt đưa đến trại Đồng Dầu, xã Dục Tú huyện Đông Anh đêm 7/11.
Xem bài:
Đưa tin về việc chị Trần Ngọc Anh đi cấp cứu, trang Xuân Việt Nam cho biết trong bài Bà Trần Ngọc Anh cấp cứu tại bệnh viện Đông Anh như sau:

Chị Nguyễn Thị Kim Liên, số điện thoại là 0918163267 thông báo: “Sáng nay hồi 11h ngày 13/11/2012, hơn một chục công an đến Đồng Dầu, chị Minh ở Bộ CA đến dụ dỗ dân: đưa về gặp ông Trần Đại Quang… dân oan không tin mà cho rằng chuyện đất đai không phải thẩm quyền của ông Trần Đại Quang giải quyết nên không chịu đi… Sau đó hơn một chục công an mặc thường phục đến trấn áp, bấm huyệt làm bà Trần Ngọc Anh bị ngất xỉu… sau đó lôi đi sang bệnh viện Đông Anh…”
Hết trích.
Sau đó chị chuyển về bệnh viên Xanh Pôn
Chị Trần Ngọc Anh ở Vườn hoa Mai Xuân Thưởng:
Cụ Lê Hiền Đức thăm chị Trần Ngọc Anh ở bệnh viện Xanh Pôn:
NTT

Cụ Lê Hiền Đức thăm chị Trần Ngọc Anh

Cụ Lê Hiền Đức thăm chị Trần Ngọc Anh

.

Ngày 17/11/2012, cụ lê Hiền Đức đã đến thăm bà Trần Ngọc Anh tại bệnh viện Xanh Pôn

Chị Trần Ngọc Anh là dân oan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Chị nằm trong số dân oan bị hốt đưa đến trại Đồng Dầu, xã Dục Tú huyện Đông Anh đêm 7/11.

Xem bài:

Tin về dân oan Ngọc Anh bị công an Hà nội bắt cóc, đánh đập.

Tin về số dân oan bị bắt đưa về Đông Anh Tiếp tục đọc

Xin thắp một nén nhang

Xin thắp một nén nhang

Nguyễn Anh Dũng

      .

Nhìn những tấm ảnh chụp cụ bà Hà Thị Nhung 76 tuổi, quê tỉnh Thanh Hóa. Nằm chết dưới đất mà mắt vẫn không nhắm được bởi sự oan ức, tại vườn hoa Lý Tử Trọng nơi được coi là trung tâm quyền lực của chế độ CS. Người bình thường cũng khó cầm lòng, sót thương cho một con người có công với chế độ, đã phải chịu một cái chết tức tưởi của một người dân oan, tại nơi đất khách quê người!

Lẽ thường khi ở tuổi cao niên, ai cũng mong được sống vui cảnh điền viên, xum vầy với con cháu. Chắc chắn cụ bà Nhung không tự hành xác mình, khi có gia đình, tuổi cao sức yếu vẫn phải đường xá xa xôi, ăn đói mặc rét, vất vưởng ngoài đường. Mà không có mục đích tố cáo tham nhũng, đòi quyền con người. Từ cái chết của cụ, đã làm rõ hơn “Những khuyết điểm, yếu kém trong thời gian qua” (Hội nghị TW 6, khóa XI), của đảng cầm quyền. Tiếp tục đọc

Cuộc “thi” Dịch văn xuôi ra thơ Đường luật ngày đầu tiên.

Cuộc “thi” Dịch văn xuôi ra thơ Đường luật ngày đầu tiên.

.

Nhà cháu cho chữ “thi” vào ngoặc kép vì nghĩ các bác đều hiểu là nhà cháu bày ra cho vui thôi chứ thi thố gì mà ban giám khảo không có, tiền thưởng cũng không.

Ngày đầu tiên phát động “cuôc thi” được các bác hưởng ứng rất chi là nhiệt tình. Nhà cháu đợi mãi không thấy bác nào bình các bài hưởng hứng nên xin điểm qua một vài bài chứ không có tham vọng nhận xét kỹ càng. Tiếp tục đọc