Archive | 25/11/2012

Minh Hằng – Trăng vẫn sáng

NGUYỄN TƯỜNG THỤY
Chẳng cần phải lục tài liệu, tôi vẫn nhớ như in Bùi Thị Minh Hằng bị bắt bao nhiêu lần, vào những ngày nào, trong trường hợp nào; mỗi lần bị giam, giữ là bao nhiêu ngày.
Oan khiên nhất là việc Minh Hẳng bị bắt đưa vào trại cải tạo Thanh Hà 5 tháng. Cô cũng đi biểu tình như mọi người, chỉ khác mọi người là hô to hơn những khẩu hiệu chống Trung Quốc, yêu cầu toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam.
Chỉ còn vài ngày nữa là kỷ niệm 1 năm Minh Hằng bị bắt. Tuy vậy, tôi viết những dòng này không phải để kỷ niệm cái ngày đáng buồn ấy, dẫu rằng rất đáng nhớ. Tôi viết vì tôi đang đau xót thay Minh Hằng …

Sự kiện Minh Hằng bị bắt ngày 27/11/2011 rồi đưa thằng vào trại Thanh Hà làm chấn động những người biểu tình tại Hà Nội và những người yêu nước trong nước cũng như hải ngoại. Mọi người thương cô, lên tiếng bảo vệ cô, gom góp nhiều, ít để bù đắp cho cô. Thật là hiếm có ai được quan tâm đến thế.
Những tấm lòng thơm thảo của bà con trong nước và hải ngoại cũng đã đến được với cô tuy chỉ là những gói quà, những đồng tiền tiêu vặt, chi phí đi lại thăm nuôi. Vì không ai được trực tiếp thăm cô nên mọi sự giúp đỡ dành cho Minh Hằng phải thông qua con trai cô, và như vậy, cô không thể biết được cụ thể. Sự giúp đỡ này cũng chấm dứt khi nhà cầm quyền trả tự do cho cô.
Minh Hằng một con người can trường dũng cảm đến phi thường. Cô không bao giờ tỏ ra sợ hãi, khuất phục trước bạo quyền. Cô từng có những hành động phản đối chế độ trại cải tạo như tuyệt thực, đập đầu, cắt ven tay, lấy kéo cắt chỉ rạch bụng không thành. Ra trại, cô tuyên bố tự thiêu để phản đối chính quyền đàn áp, bức hại những người dân vô tội.
Vừa rồi, anh em gặp nhau, Hằng nói cô chỉ mơ đến một cái chết sao cho có ích, cho xứng đáng mà thôi.
Tuy không muốn cô làm như thế nhưng tôi hiểu những việc làm, lời tuyên bố của cô là thật, theo cái lẽ tự nhiên của cô. Không phải để dọa ai, cũng không phải để lấy tiếng.
Mọi người thương và quí trọng Minh Hằng bởi nhiều lẽ. Ngoài tinh thần quả cảm, Hằng còn có một hoàn cảnh đặc biệt. Gia đình cô không được êm ấm, chị em mâu thuẫn, các con không đáp ứng được mong muốn của mẹ …
Đằng sau vẻ kiên cường, mạnh mẽ của Minh Hằng là những nỗi niềm sâu kín u uất. Hẳn là không ít lúc, Minh Hằng lặng lẽ ngồi khóc cho số phận của mình.
Nhưng không vì thế mà cô sống khác đi. Cô là con người cao thượng. Phải đánh giá cô bằng việc làm, bằng bản lĩnh, bằng tiết tháo, bằng nghĩa cử chứ không thể lấy tiêu chuẩn đạo đức học trò hay công dân ngoan ngoãn để đánh giá cô. Xin đừng khoét sâu thêm vào nỗi đau của cô rồi đặt ra vấn đề vì sao, vì sao…
Trong cuộc đấu tranh vì chủ quyền đất nước, vì một xã hội tốt đẹp, công bằng, Minh Hằng ngày càng vững vàng hơn. Hằng nói với tôi: “Cảm ơn Đảng và Nhà nước đã biến em từ một người nội trợ Bùi Hằng thành chiến sĩ Bùi Hằng”.
Đúng vậy, Minh Hằng bây giờ đã chín chắn hơn, bản lĩnh hơn. Còn cái tình của cô đối với bè bạn vẫn chứa chan. Điều này giải thích vì sao sau khi ra trại, bị cưỡng chế về thẳng Vũng Tàu, nhiều người từ Hà Nội đã vào với Minh Hằng. Hơn 6 tháng sau, một cuộc đón mừng Minh Hằng ra Hà Nội đã diễn ra trong không khí ấm áp, cảm động và thấm đẫm tình người.
5 tháng trong trại, Minh Hằng mất đi nhiều thứ, đau đớn nhất là về tình cảm gia đình. Về mặt kinh tế, chuyện nhà cửa, nợ nần cũng rất phức tạp nhưng cô không kể lể  Có một lần mấy anh em Hà Nội bàn với tôi làm cách nào để giữ được nhà cho Hằng. Tôi hỏi Hằng về chuyện nợ nần, về nhà cửa, Hằng gạt đi. Về mặt này, cô rất khái tính.
Trong hoàn cảnh như thế, Hằng vẫn tiếp tục đấu tranh, vẫn tìm cách giúp đỡ những dân oan và nhiều cảnh ngộ khác. Hằng vẫn sống vì người khác, vẫn quan tâm đến mọi người. Cô tận tình chu đáo với bè bạn như những người nhà quê chân chất.
Có điều bây giờ, cô khó khăn hơn rất nhiều so với trước khi tham gia biểu tình chống Trung Quốc. Mất mát của cô lớn quá. Mà tôi thì không làm gì được cho cô.
Tôi đã viết nhiều bài bảo vệ Minh Hằng. Hằng chưa bao giờ làm cho tôi ân hận về những gì tôi viết ra vì cô. Bài thơ “Hằng ơi” tôi viết trên đường đi thăm Minh Hằng về nhưng không được gặp, có câu:
Hãy kiên trung nhé, Minh Hằng 
Tên em vằng vặc, trăng rằm cũng ghen.
Và bây giờ Minh Hằng – trăng vẫn sáng.
Minh Hằng trong khi biểu tình chống Trung Quốc
.
Minh Hằng trong trại cải tạo Thanh Hà
.
Minh Hằng khi vừa ra trại
.
Hai anh em gặp lại nhau sau 1 năm xa cách.
25/11/2012
NTT

Cháy nhà ra mặt chuột

Nguyễn Văn Khải – Ông già Ôzôn.
Tối 22-11-2012, khán giả màn hình nhỏ của VTV1 đã thấy người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: “Tấm hộ chiếu mới của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan ở Biển Đông”.
Ba câu hỏi đã được đặt ra: Những cuốn hộ chiếu của Trung Quốc có in hình lưỡi bò bắt đầu được lưu hành từ bao giờ? Đã có bao nhiêu người Trung Quốc dùng hộ chiếu này để vào Việt Nam? Tại sao người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam không khăng định: “Những người Trung Quốc nào dùng hộ chiếu có in hình lưỡi bò sẽ không được nhập cảnh vào Việt Nam”.

Hôm sau “gần 200 khách du lịch Trung Quốc làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam ngày 23/11 tại cửa khẩu quốc tế Lào Cai, cơ quan chức năng Việt Nam đã đóng dấu hủy bốn hộ chiếu có in chìm hình đường lưỡi bò, đồng thời bộ đội biên phòng làm nhiệm vụ tại cửa khẩu này đã đóng dấu thị thực vào giấy thông hành rời cho người nhập cảnh” và “Biên phòng Móng Cái đã áp dụng biện pháp chỉ cấp thị thực rời cho người Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam sử dụng cuốn hộ chiếu phổ thông điện tử có in bản đồ đường lưỡi bò ở một số trang. Khi cấp thị thực rời, các cơ quan chức năng sẽ không phải đóng dấu chứng thực vào hộ chiếu và qua đó khẳng định không công nhận bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc dưới bất cứ hình thức nào, đại diện đồn biên phòng số 7 khẳng định” (Báo Tuổi Trẻ ngày 24-11-2012).
Chẳng nhẽ các cửa khẩu vào Việt Nam chỉ có hai cửa khẩu ở Lào Cai và Móng Cái?
Tôi đã từng đi qua cửa khẩu Lạng Sơn, có lúc thấy vài chục tới hơn trăm người cùng làm thủ tục xuất hoặc nhập cảnh ở cửa khẩu này. Tương tự, ở các sân bay như Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng,…tôi cũng thường thấy nhiều người nước ngoài trong đó có người Trung Quốc làm thủ tục xuất nhập cảnh ở những nơi đó.
Vậy sau khi Bộ Ngoại giao Việt Nam đã tuyên bố phản đối việc Trung Quốc phát hành hộ chiếu có in hình lưỡi bò, mới chỉ có bộ đội biên phòng ở Lào Cai và Móng Cái thực thi quyền bảo vệ an ninh quốc phòng của đất nước mình? Còn ở các cửa khẩu khác thì những người Trung Quốc mang hộ chiếu có hình lưỡi bò vẫn được nhập cảnh vào Việt Nam ư? Hơn nữa trước buổi tối 22-11-2012 ở hai cửa khẩu này những người Trung Quốc mang hộ chiếu có in hình lưỡi bò vẫn được nhập cảnh vào Việt Nam à? Đặc biệt ai đã cấp visa cho người Trung Quốc không có hộ chiếu ngoại giao dùng hộ chiếu có in hình lưỡi bò vào Việt Nam.
Tất cả những câu hỏi trên đều có thể được trả lời rằng:
Đã có người Trung Quốc mang hộ chiếu in hình lưỡi bò nhập cảnh vào Việt Nam từ lâu rồi. Mà visa vào Việt Nam do các văn phòng lãnh sự thuộc Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc cấp – đây là sự sai lầm không được phép có và không một người Việt Nam yêu nước nào có thể tha thứ cho người đã cấp visa. Phản ứng với sự khiêu khích trắng trợn này của Trung Quốc rất chậm trễ,và không thống nhất trong hành động của các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang có nhiệm vụ bảo vệ an ninh – quốc phòng quốc gia. Nó chứng tỏ rằng sự tùy tiện thực thi nhiệm vụ của các cơ quan,đơn vị này, cũng như sự lãnh đạo lỏng lẻo của các cấp lãnh đạo mà đứng đầu là Hội đồng an ninh quốc gia.
NVK
Tác giả gửi qua email

Minh Hằng – Trăng vẫn sáng

Minh Hằng – Trăng vẫn sáng

 NGUYỄN TƯỜNG THỤY

.

Chẳng cần phải lục tài liệu, tôi vẫn nhớ như in Bùi Thị Minh Hằng bị bắt bao nhiêu lần, vào những ngày nào, trong trường hợp nào; mỗi lần bị giam, giữ là bao nhiêu ngày.

Oan khiên nhất là việc Minh Hẳng bị bắt đưa vào trại cải tạo Thanh Hà 5 tháng. Cô cũng đi biểu tình như mọi người, chỉ khác mọi người là hô to hơn những khẩu hiệu chống Trung Quốc, yêu cầu toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam.

Chỉ còn vài ngày nữa là kỷ niệm 1 năm Minh Hằng bị bắt. Tuy vậy, tôi viết những dòng này không phải để kỷ niệm cái ngày đáng buồn ấy, dẫu rằng rất đáng nhớ. Tôi viết vì tôi đang đau xót thay Minh Hằng …

Tiếp tục đọc

Cháy nhà ra mặt chuột

 Cháy nhà ra mặt chuột

                                                         Nguyễn Văn Khải – Ông già Ôzôn.

 .

   Tối 22-11-2012, khán giả màn hình nhỏ của VTV1 đã thấy người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: “Tấm hộ chiếu mới của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan ở Biển Đông”.

   Ba câu hỏi đã được đặt ra: Những cuốn hộ chiếu của Trung Quốc có in hình lưỡi bò bắt đầu được lưu hành từ bao giờ? Đã có bao nhiêu người Trung Quốc dùng hộ chiếu này để vào Việt Nam? Tại sao người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam không khăng định: “Những người Trung Quốc nào dùng hộ chiếu có in hình lưỡi bò sẽ không được nhập cảnh vào Việt Nam”.

  Tiếp tục đọc

Trung Quốc vĩnh biệt Mác – Lê – Mao

Trần Mạnh Hảo

.Lời đề từ trích của Tân Tử Lăng :
(“Văn trị” của Mao thật hồ đồ. Ông ta đã phá hoại một thế giới cũ, nhưng lại không xây dựng nổi một thế giới mới. Mao muốn đưa mọi người lên thiên đường, song lại đẩy họ xuống địa ngục…Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Mác và Ăng-ghen đề xướng trở thành một phong trào xã hội chủ nghĩa bạo lực trương ngọn cờ giải phóng giai cấp công nhân để phá huỷ lực lượng sản xuất tiên tiến. ..“chủ nghĩa xã hội khoa học” trở thành “chủ nghĩa xã hội bạo lực”, khiến mấy thế hệ những người cộng sản bao gồm Lenin, Stalin Mao Trạch Đông… lầm đường lạc lối…)…( trích trong cuốn “Mao Trạch Đông – ngàn năm công tội” của đại tá quân giải phóng nhân dân Trung Quốc Tân Tử Lăng được in công khai tại Trung Quốc, Thông Tấn xã Việt Nam dịch và xuất bản năm 2009)
Đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 vừa qua là đại hội vĩnh biệt ba ông tổ của chủ nghĩa xã hội (không tưởng): Marx, Lenin, Mao Trạch Đông. Trong tất cả các văn kiện chính thức của đại hội này, không hề nhắc đến ba tên tuổi từng được cho là vĩ đại của Marx, Lenin, Mao, được tôn thờ ở Trung Quốc (và thờ ở Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cămpuchia của Khờ me đỏ…). Các văn kiện của đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 đều khẳng định: Đảng đi theo lý luận Đặng Tiểu Bình, nguyên tắc “ba đại diện” (của Giang Trạch Dân…nhưng tên ông này không được nhắc đến – chú của TMH) và xã hội học tập (thuyết của Hồ Cẩm Đào – nhưng tên ông này không được nhắc đến – chú TMH). Đến diễn văn bế mạc của tân chủ tịch đảng, chủ tịch nước kiêm người đứng đầu quân ủy trung ương Tập Cận Bình thì mệnh đề “xã hội học tập” của Hồ Cẩm Đào không được nhắc đến, chỉ nhắc đảng cộng sản Trung Quốc đi theo lý luận Đặng Tiểu Bình, nguyên tắc “ba đại diện” mà thôi. Thậm chí, sau diễn văn bế mạc và nhậm chức, Tập Cận Bình khi giới thiệu sáu vị trong thường vụ bộ chính trị đứng sau mình đã tránh dùng từ “đồng chí” mà dùng từ “đồng nghiệp”…
Vậy lý luận Đặng Tiểu Bình là gì? Thưa là thuyết “Mèo luận”: nôm na gói trong mấy từ mà họ Đặng đã phán sau khi Mao chết (1976): “Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột”…Diễn nôm thuyết “Mèo luận” của Đặng là: tên gọi chế độ là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa không quan trọng, miễn là chủ nghĩa nào làm cho Trung Quốc thoát khỏi chết đói, thoát đại loạn, thoát khỏi các học thuyết phản động và tồi tệ rất xấu xa đốn mạt của Mao Trạch Đông. Sau khi cùng Diệp Kiếm Anh, Hoa Quốc Phong và các lão tướng dẹp bỏ bè lũ bốn tên, Đặng Tiểu Bình lập thuyết “Mèo luận”: dương ngọn cờ Mao Trạch Đông để xóa bỏ tư tưởng Mao, dương ngọn cờ chủ nghĩa xã hội để dẹp bỏ chủ nghĩa xã hội, đưa nước Trung Hoa đỏ vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa từ năm 1978. Về thực chất, Đảng cộng sản Trung Quốc dưới lý thuyết thực dụng “Mèo luận” nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình, đã chôn vùi chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Mao Trạch Đông ngay từ năm 1978, năm xóa bỏ kinh tế quốc doanh bao cấp để thực thi kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nhưng vẫn còn dùng chiêu bài Mác-Lê-Mao hay chiêu bài “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” để ngụy trang.
Cù Thu Bạch (1899-1935) một nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc, từng là Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc năm 1927, 1928, 1930,1931 (là một trong ba người được cho là thiểu năng trí tuệ đã ngu ngốc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê nin vào Trung Quốc: Trần Độc Tú “1879-1942”, Lý Đại Chiêu “1888-1927”) thuở sinh thời đã có bài thơ rất lạ, tuồng như là lời sấm về số phận của Đảng Cộng sản Trung Quốc như sau :
Đó là bài thơ “A di đà Phật”: một bài thơ đẫm chất Thiền của họ Cù:
A di đà phật (Người dịch: Lương Duy Thứ, Nam Trân)
“Đừng suy đoán
Đừng bận tâm
Tìm chi cái không biết
Bàn chi cái tối tăm
Vết thương trong ngày
Lấy mộng ban đêm hàn gắn
Ngày của ngày mai
Tự nhiên sẽ đến …”
Con đường hũ nút đi tìm thế giới không có thật của giai cấp vô sản bằng vũ lực đấu tranh giai cấp, chuyên chế vô sản, xóa bỏ hoàn toàn quá khứ (lịch sử) nhân loại, xóa bỏ tư hữu, tiêu diệt tư bản đầy máu và nước mắt của các đảng cộng sản theo Mác Lê nin ( và theo Mao) đúng như câu thơ sấm truyền của Cù Thu Bạch tiên sinh: “Tìm chi cái không biết/ Bàn chi cái tối tăm/ Vết thương ban ngày/ Lấy mộng ban đêm hàn gắn”.
Mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản là thiên đường không có thật trên trần gian: một xã hội phi biện chứng (Hegel đã truyền cho Marx cái ý tưởng ngu ngốc nhất của mình: đến thiên đường cộng sản, phép biện chứng sẽ biến mất); cái ác, cái xấu, cái giả trá của con người hoàn toàn biến mất, con người hóa những ông thánh, bà thánh, không cần làm việc, chỉ cần ngồi hưởng thụ: “làm theo năng lực, hưởng theo như cầu”. Năng lực có hạn, còn nhu cầu của con người thì vô biên.
Đại đồng cộng sản là một xã hội không có nhà nước, không có quốc gia, không có gia đình, không có chính quyền, không có pháp luật, không có tòa án, không có quân đội, công an, đảng phái, không tôn giáo, không hôn nhân, không có đau khổ , không cô đơn, không có ngân hàng, không có cá nhân, không có cái tôi; ra đường không biết bà ấy, cô ấy là vợ tôi hay vợ anh vì quyền sở hữu bị xóa bỏ; xe hơi, nhà cửa đẹp sang trọng là thế nhưng không còn khái niệm của anh hay của tôi mà là sở hữu toàn dân; tất cả tư liệu sản xuất và công cụ sản xuất là sở hữu toàn dân; rồi thì vợ chồng toàn dân, con cái toàn dân, tình nhân toàn dân, cười vui toàn dân, làm tình toàn dân, cực khoái toàn dân, không còn cái gì gọi là riêng tư nữa; vì đây là xã hội của các vị thánh mà, hoàn toàn không có quan niệm sở hữu, không còn biện chứng tự nhiên và xã hội, chỉ có ngày mà không có đêm, chỉ có cười mà không có khóc, chỉ có vui mà không có buồn, chỉ có sống mà không có chết, chỉ có dương mà không có âm, chỉ có ăn mà không có ỉa ( xin lỗi vì lúc đó theo Marx, lịch sử loài người dừng lại trong cái tuyệt đối, mọi sự hôi thối quyết không được phép tồn tại, tất cả đều thơm điếc mũi kể cả đồng chí bọ xít, phép tương đối của Alb. Einstein đã cáo chung, phép biện chứng đã biến mất theo Hegel-Marx)…
Anh và chị cũng không còn được sở hữu chính mình: anh và chị, tức cái tôi của mỗi người, cái cá thể đã biến mất, nên anh và chị đều là sở hữu toàn dân. Có người cắc cớ chợt ngứa miệng hỏi anh: cái bàn tay của anh có phải của anh không? – Không, của toàn dân! Cái đầu của anh có phải của anh không? – Không, của toàn dân! Cái ý nghĩ (tư duy) trong đầu anh có phải của anh không? – Không, của toàn dân! Cái con chim trong quần anh có phải của anh không? – Không, của toàn dân!
Đã bảo đến đại đồng cộng sản không còn khái niệm sở hữu, tư hữu nữa mà, hỏi hoài à ! Từ “của” không còn tồn tại, từ “sở hữu”, từ “cá nhân”, từ “cái tôi” hoàn toàn biến mất, biến mất cả “sở hữu động từ, sở hữu danh từ” trong các thứ tiếng châu Âu… Người ta cũng sẽ không còn đọc nổi cuốn “Tư bản luận” của Marx nữa vì lúc đó các sở hữu động từ, sở hữu danh từ trong tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh …nơi cuốn sách này đều tự động biến mất…
Xã hội thiên đường cộng sản của Mác Lê Mao là một xã hội bánh vẽ, một xã hội phi nhân như thế, lếu láo như thế, bịa đặt tức cười đến con nít cũng không tin nổi như thế mà trời ơi, đã có hàng triệu, thậm chí hàng tỉ người tin theo, hay bị bắt buộc phải tin theo, vì các đồng chí vô sản sẽ nện búa lên đầu anh, lấy liềm quặp vào cổ anh và hét lên: mày không tin vào thuyết cộng sản của chúng tao, chúng tao sẽ giết mày.
Chao ôi, chỉ có những người mất trí mới tin vào mục tiêu hoang tưởng của chủ nghĩa cộng sản, một học thuyết “tối tăm” như bài thơ trên đã chỉ ra, một học thuyết hoàn toàn phi nhân đã giết chết hàng nhiều trăm triệu người trên thế giới như báo chí quốc tế mà tác giả cuốn “ Mao Trạch Đông ngàn năm cộng tội” là Tân Tử Lăng đã dẫn chứng trong sách của mình :
History’s Largest Killing Regimes
(Những chế độ giết người khủng khiếp nhất trong lịch sử):
Communist China 80,000,000
Soviet Union 60,000,000
Nazi Germany 20,000,000
Imperial Japan 5,000,000
Communist Vietnam 2,500,000
Communist North Korea 2,500,000
Communist Cambodia 2,000,000
Communist Yugoslavia 2,000,000
Chúng tôi xin trích một số đoạn trong cuốn “ Mao Trạch Đông – nghìn năm công tội” của đại tá Tân Tử Lăng được in công khai tại Trung Quốc, bản Tiếng Việt do “ Thông tấn xã Việt Nam” dịch và xuất bản năm 2009, có bày bán công khai :
“Chính sách Đại nhảy vọt) trong kinh tế đã để lại những hậu quả tai hại. Mao Trạch Đông cũng là người phát động Đại Cách mạng văn hóa vô sản, thường gọi là Cách mạng văn hóa. Theo một số liệu thống kê[1], Mao Trạch Đông là nhà lãnh đạo đã trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết cho 77.000.000 người, và người đứng thứ hai là Iosif Vissarionovich Stalin với 43.000.000 người.[2]
Cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” do nhà xuất bản Thư Tác Phường ấn hành, ra mắt tại Hồng Công tháng 7-2007 và tới bạn đọc tháng 6-2008, là một trong những cuốn sách đang được dư luận Trung Quốc hết sức quan tâm, với những luồng ý kiến nhận xét trái ngược nhau, từ hoan nghênh đến bất đồng, thậm chí phản đối gay gắt.
Tác gia Tân Tử Lăng nguyên là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện quân sự cấp cao, Đại học Quân chính, Đại học Quốc phòng Trung Quốc. Ông nhập ngũ năm 1950, từng tham gia các phong trào chính trị do Mao phát động, về hưu năm 1994 với quân hàm Đại tá.
Chúng tôi xin trích một số đoạn trong tác phẩm trên để bạn đọc thấy rõ “thiên đường xã hội chủ nghĩa thực ra là địa ngục trần gian” như sau :
“Kinh điển để Mao cải tạo xã hội chủ yếu là “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Tư tường chủ nghĩa xã hội không tưởng của “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” kết hợp với quan điểm “đại đồng” của Trung Quốc hình thành mô hình chủ nghĩa xã hội không tưởng Mao Trạch Đông. Sự phát triển của nó là Mác + Tần Thuỷ Hoàng (lời Mao Trạch Đông), thêm thắt nhiều thứ mang tính chất phong kiến, cuối cùng biến chất thành chủ nghĩa xã hội phong kiến
“Chương 9
Địa ngục văn chương lớn nhất trong lịch sử loài người” :
“Đến khi Lý phản ánh ý kiến của La Long Cơ rằng ở Trung Quốc hiện nay “tiểu trí thức của chủ nghĩa Mác-Lenin lãnh đạo đại trí thức của giai cấp tiểu tư sản, người mù chỉđường người sáng mắt”, thì Mao nổi giận dữ dội.”
“Theo thống kê chính thức, trong cuộc đấu tranh này, có 552.877 trí thức bị qui là phái hữu, bị đầy đoạ trong 20 năm trời. Đến khi sửa sai (1980), chỉ có 96 người thật sự là phái hữu, chiếm 1,8 phần vạn, nghĩa là trong 1 vạn người chưa đến 2 người.”
“Mao nói: “Phải chuyên chế. Không thể chỉ nói đến dân chủ. Phải kết hợp giữa Các Mác và Tần Thuỷ Hoàng”
“Chương 18
Địa ngục trần gian” :
“Trong 4 năm sau khi Mao tuyên bố thực hiện một số lý tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng (tháng 9-1959) Trung Quốc đã xảy ra thảm kịch làm 37,55 triệu người chết đói (số liệu chính thức được giải mật theo quyết định của Bộ chính trị ĐCSTQ tháng 9-2005), nhiều hơn cả số người chết trong Chiến tranh thế giới II. Đây là cuộc thử nghiệm chủ nghĩa xã hội không tưởng thời gian dài nhất, quy mô lớn nhât, thiệt hại thảm khốc nhất trong lịch sử loài người. Thiên đường cộng sản chủ nghĩa do chính Mao thiết kế và lãnh đạo xây dựng đã biến thành địa ngục trần gian.”
“Khi chân lý trong tay, Mao có thể bao dung các đối thủ, đoàn kết phe phản đối. Thường khi Mao đuối lý, phát hiện mình sai rồi, thì ông ta không thể bao dung phái phản đối, mà quyết tâm đẩy họ vào chỗ chết, để trừ hậu hoạ. Đó là lý do vì sao Mao tàn bạo đến tận cùng đối với những người bạn cũ như Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Hạ Long, Bành Chân, Đào Chú…”
“Chưa một nhà thống trị nào có thể lợi dụng học sinh làm điều xấu. Chỉ có Mao Trạch Đông làm nổi việc này. Mao đã lợi dụng học sinh làm rối loạn cả xã hội, lật đổ cơ quan đảng và chính quyền các cấp, mượn bàn tay học sinh để giày vò các bạn chiến đấu hôm qua, đối thủ chính trị hôm nay.”
“Khởi đầu bằng việc đập phá tượng Thích ca mâu ni trên Phật Hương Các ở Di Hoà Viên, Hồng vệ binh đã phá hoại 4.922 trong số 6.843 di tích cổở Bắc Kinh. Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước có 10 triệu nhà bị lục soát, trong đó Bắc Kinh 11,4 vạn, Thượng Hải 10 vạn. Nhà riêng nguyên Bộ trưởng Giao thông Chương Bá Quân bị Hồng vệ binh chiếm làm trụ sở, hàng vạn cuốn sách ông lưu trữ bị chúng đốt suốt ngày đêm để sưởi ấm. Hơn 200 sinh viên Đại học Sưphạm Bắc Kinh kéo về Sơn Đông “san bằng” mộ Khổng Tử. Lăng mộ của nhiều nhân vật lịch sử hoặc danh nhân như lăng Viêm đế, mộ Hạng Vũ, Gia Cát Lượng. Thành Cát Tư Hãn, Chu Nguyên Chương, Ngô Thừa Ân, Từ Bi Hồng… bị đập phá.”
“Mao còn tạo ra cuộc khủng bố đỏ, cho Hồng vệ binh nông dân thả sức giết hại “kẻ xấu” (địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phái hữu, nhà tư bản, xã hội đen) để áp chế sự phản kháng của nhân dân. Chỉ riêng hạ tuần tháng 8-1966, nội thành Bắc Kinh đã có hàng ngàn người bị đập chết tươi.”
“Nhiều người khi ấy đã được chứng kiến những cuộc tắm máu, những kiểu giết người cực kỳ man rợ như thời trung cổ. Ôn lại chuyện trên, cựu Hồng vệ binh Trần Hướng Dương sau này viết:
“Vì sao những đứa trẻ mười mấy tuổi đầu lại dã man giết người không chớp mắt như vậy? Vì từ nhỏ đã được giáo dục hận thù. Thù địa chủ, thù nhà tư bản, thù Quốc Dân Đảng: Trả thù bằng thủ đoạn tàn nhẫn là thiên kinh địa nghĩa, vấn đề duy nhất là không biết chĩa vào đâu. Kè thù bên cạnh đã bị các bậc tiền bối quét sạch rồi, còn lại Tưởng Giới Thạch và đế quốc lại ở quá xa, không với tới được. Đại cách mạng văn hoá vừa nổ ra, mới đột nhiên biết quanh mình còn ẩn náu nhiều kẻ thù, chúng tôi vui mừng đến phát cuồng, bao nhiêu sức lực dồn nén dều bung ra. Sự cuồng loạn ấy chẳng những hiện nay không mấy ai tin, mà ngay bản thân chúng tôi nhớ lại cũng không dám tin nữa. Những việc làm xấu xa của Hồng vệ binh thật đáng nguyền rủa, nhưng chúng tôi cũng có đủ tư cách lớn tiếng hỏi lại: ai đã giáo dục chúng tôi thành những thằng điên?”
“Băc Kinh “nêu gương”, những vụ tàn sát lan ra cả nước. Huyện Đạo ở Hồ Nam là một trong những điển hình. Khắp nơi là những bố cáo giết người của “toà án tối cao bần nông và trung nông lớp dưới”, những khẩu hiệu kêu gọi giết sạch 4 loại người, (địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phái hữu, trí thức, nhà văn, nghệ sĩ…).”
“Trong hai tháng 7 và 8 năm 1967, Quan Hữu Chí, Trưởng ban vũ trang khu Thanh Đường đã chỉ huy dân quân dùng cuốc xẻng, súng bắn chim, gậy gộc giết hại 207 người, kể cả trẻ em. Do công lao trên, y được bầu là “phần tử tích cực học tập và vận dụng tư tường Mao” cấp tỉnh năm 1967. Viên Phủ Lễ, Khu trưởng Lâm Phô tổ chức 120 dân quân nòng cốt trong ba ngày giết 569 người.”
“Trần Đăng Nghĩa, Chủ tịch Hội Bần nông Đại đội sản xuất Hạ Tưởng là thủ phạm chính trong một vụ giết người, cưỡng dâm tập thể. Thấy vợ mới cưới của con em địa chủ Trần Cao Tiêu xinh đẹp, y sinh lòng ghen ghét và sớm có ý đồ bất lương, thì nay thời cơ đến. Tối 26-8-1967. Nghĩa cho gọi Tiêu đến trụ sở đại đội và trói nghiến lại. Y cầm giáo đâm một nhát vào dùi anh Tiêu, rồi khoát tay ra hiệu. 7,8 dân quân xông vào dùng gậy đập anh Tiêu chết tươi. Để chứng tỏ mình “kiên quyết cách mạng”, y dùng mã tấu cắt đầu anh Tiêu, cùng hai con em địa chủ, phú nông khác cũng vừa bị đánh chết. Chị Tiêu (xuất thân bần nông) sợ quá trốn về nhà mẹ đẻở làng khác, Nghĩa cho dân quân bắt chị trở lại, y tuyên bố các nơi khác vợ địa chủ đều phải “phục vụ tập thể bần nông”.
“Sau khi cơm no, rượu say, Chủ tịch Hội Bần nông và dân quân, tất cả 12 tên, luân phiên cưỡng hiếp chị Tiêu khi ấy đang mang thai 3 tháng. Xong xuôi. Nghĩa không quên thực hiện “chính sách của ĐCSTQ”: cho dân quân khiêng nạn nhân đã ngất xỉu đến nhà bần nông Trần Nguyệt Cao, buộc chị làm vợ người nông dân già độc thân này.”
“Tối 17-10-1969, Lưu Thiếu Kỳ hơi thở thoi thóp, mũi cắm ống xông, họng gần ống hút đờm, phủ một tấm chăn, được cáng lên máy bay quân sự, bí mật đưa đến Khai Phong. Nơi cuối cùng giam giữ Lưu Thiếu Kỳ này nguyên là kho bạc của một ngân hàng từ trước năm 1949, các cánh cửa là những tấm thép dày, chấn song cửa sổ to đùng. Hai trung đội được cử canh giữ ngày đêm, với 4 khẩu súng máy đặt trên các nóc nhà xung quanh đề phòng bất trắc.”
“6 giờ 40 phút sáng 12-11-1969, ngày thứ 27 sau khi bị đưa đến lưu đày ở Khai Phong, Lưu Thiếu Kỳ qua đời trong tinh trạng không được cấp cứu. Khi Lý Thái Hoà, vệ sĩ của ông năm xưa đến nhận xác, thi hài vị Chủ tịch nước đặt trên nền đất dưới gian hầm, chân tay khẳng khiu, đầu tóc rối bời, miệng mũi méo xệch, máu ứ bên khoé mép. Người vệ sĩ dùng kéo xén bớt mái tóc bạc dài gần hai gang tay, sửa sang chòm râu, mặc quần áo, xỏ giày cho ông. Nhân viên chuyên án chụp ảnh để mang về trình Mao, Giang. Sau đó, họ đặt thi hài Lưu Thiếu Kỳ trên xe quân sự nhỏ, chân thò ra ngoài, bí mật đưa đi hoả táng, dưới cái tên “Lưu Vệ Hoàng, không nghề nghiệp”.”
“Gần 3 năm sau, ngày 16-8-1972, mấy người con của Lưu Thiếu Kỳ xin thăm cha mẹ, Mao Trạch Đông phê vào báo cáo của Tổ chuyên án: “Bố đã chết, có thể thăm mẹ”.”
“Lịch sử phải ghi bằng dòng chữ to đậm: Mao Trạch Đông chà đạp Hiến pháp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, giam cầm trái phép Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và hàng trăm hàng ngàn cán bộ cao cấp khác, hàng vạn, hàng chục vạn đảng viên quần chúng vô tội) và bức hại Người và các đồng chí khác của Người một cách man rợcho đến chết.”
“sai lầm của Mao làm chết đói 37,55 triệu người. Một lãnh tụ đảng luôn miệng nói giải phóng nhân dân, phục vụ nhân dân, mang lại hạnh phúc cho nhân dân phạm tội ác lớn như vậy, mà lại cự tuyệt nhận sai lầm, không từ chức, lại phát động Đại cách mạng văn hoá, cách chức, đánh đổ, thậm chí dồn vào chỗ chết khoảng trên 80% đảng viên cộng sản chính trực”
“37,55 triệu người chết đói là sự thật lịch sử không gì bác nổi chứng minh rằng lý luận và thực tiễn chủ nghĩa xã hội không tưởng của Mao là chủ nghĩa xã hội giả hiệu phản động nhất, tàn khốc nhất trong lịch sử loài người. Mỗi khi nghĩ đến điều này, Mao rùng mình ớn lạnh.”
“những lý luận của Mao như phòng, chống xét lại, ngăn chặn chủ nghĩa tư bản phục hồi, tiếp tục cách mạng dưới nền chuyên chính vô sản… đều trởthành dối trá, bịp bợm.”
“Mao Trạch Đông những năm cuối đời tâm địa tối tăm, giả dối, xảo trá, vừa không từ bất cứ việc làm xấu xa nào, lại muốn để lại tiếng thơm muôn thuở”
“Ngồi trên đỉnh kim tự tháp tác oai tác quái, bức hại cán bộ lãnh đạo các cấp, lừa bịp toàn đảng, toàn quân, toàn dân, không chỉ là tứ nhân bang” (lũ bốn tên), mà là “ngũ nhân bang”, do Mao Trạch Đông làm bang chủ.”
“Ba năm Đại tiến vọt, cả nước có 37,55 triệu người chết đói tồn thất khoảng 120 tỉ NDT. Mười năm Đại
cách mạng văn hoá, theo Diệp Kiếm Anh tiết lộ tại lễ bế mạc Hội nghị công tác Trung ương ngày 13-12-1978, có 20 triệu người chết, 100 triệu người bị đấu tố, lãng phí 800 tỉ NDT.”
“Nhân dân đã thức tỉnh. Việc tiếp tục treo ảnh Mao trên Thiên an môn, tiếp tục để thi hài Mao ở nhà kỷ niệm là lạc hậu so với quần chúng rồi, cần xử lý thỏa đáng đất nước ta triệt để bóng đen Mao Trạch Đông”
Nhà báo kiêm nhà sử học Dương Kế Thằng (Yang Jisheng) đã bỏ ra 15 năm trời thu thập chứng cứ để viết ra tác phẩm « Bia mộ », tài liệu đầy đủ nhất từ trước đến nay về nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Sách đã được tái bản đến lần thứ tư tại Hồng Kông.
« Cuốn sách này là bia mộ cho cha tôi, bị chết đói vào năm 1959, bia mộ cho 36 triệu người dân Trung Quốc nạn nhân của trận đói, bia mộ cho chế độ đã gây ra thảm kịch này ». Tác giả đã viết như trên trong lời nói đầu của bản dịch tiếng Pháp vừa được nhà xuất bản Seuil phát hành tại Paris ngày 13/09/2012.
Sinh năm 1940, Dương Kế Thằng từng là phóng viên kỳ cựu của Tân Hoa Xã, và hiện nay là Phó tổng biên tập tạp chí Viêm Hoàng Xuân Thu (Yanhuang Chunqiu). Mười lăm năm điều tra trên thực địa, với hàng ngàn trang tài liệu tìm được ở địa phương và rất nhiều nhân chứng, tác giả đã thuật lại sự điên cuồng của việc cưỡng bức tập thể hóa, lên án Mao Trạch Đông là bạo chúa tàn ác nhất, vô nhân đạo nhất trong lịch sử Trung Quôc và lích sử thế giới, vượt xa các bạo chúa khác như Tần Thủy Hoàng, Thành Cát tư hãn, Stalin, Hit le…
Viết đến đây, chúng tôi ngậm ngùi thương đất nước mình, dân tộc mình hình như trong quá khứ đầu thế kỷ hai mươi đến nay không còn người thông tuệ, sáng suốt đưa dân tộc, đất nước thoát khỏi những tà thuyết đã gây nên hàng triệu cái chết cho đồng bào, gây đau khổ tang tóc vô cùng tận cho quê hương ta. Xin quý vị độc giả cùng chúng tôi đọc lại nguyên lý dưới đây trong cương lĩnh của đảng Lao động Việt Nam trong đại hội đảng năm 1951 tại Việt Bắc để biết đất nước ta vì sao nên nỗi :
“Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Ǎngghen – Lênin – Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”
Người viết bài này xin trích lời của Tân Tử Lăng- tác giả sách vừa dẫn để kết thúc bài viết :
“Phải tiến hành một cuộc chuyển đổi ý thức hệ sâu sắc, tuyên bố công khai và rõ ràng trước toàn đảng, toàn dân: từ bỏ những giáo điều “tả” khuynh từ Mác, Ăng-ghen, Lenin, Stalin đến Mao Trạch Đông – những lý luận đã mấy chục năm đưa Trung Quốc vào con đường sai lầm, đem lại cho Trung Quốc nghèo nàn, rối loạn và chuyên chế, đến nay vẫn cản trở và phủ định công cuộc cải cách-mở cửa…Đổi tên ĐCSTQ thành Đảng Dân chủ Xã hội, tham gia Quốc tế xã hội, để kế tục cội nguồn lịch sử của Đảng Dân chủ Xã hội…” ( tức Quốc tế 2, tiền thân của các đảng xã hội, công đảng châu Âu bây giờ và một phần đảng dân chủ Mỹ- Chú của TMH).
Đảng cộng sản Trung Quốc trong đại hội lần thứ 18 vừa qua, đã thực hiện mơ ước của Tân Tử Lăng là vĩnh biệt ba ông tổ : Marx-Lê-Mao. Có lẽ đến đại hội thứ 19, đảng cộng sản Trung Quốc mới đổi tên là Đảng Dân chủ xã hội như mơ ước của Tân Tử Lăng chăng ?
Hi vọng truyền thống bắt chước đảng cộng sản Trung Quốc của đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn được tiếp tục, để bỏ tên hai ông kễnh Marx-Lenin ra khỏi cương lĩnh chính trị của mình mà tự do hóa, dân chủ hóa đất nước Việt Nam đang từng ngày bị bá quyền Trung Quốc xâm lược từ tư tưởng chính trị đến đất đai biển trời Tổ Quốc; mong lắm thay !
Sài Gòn 24-11-2012
TMH
Tác giả gửi qua email
This entry was posted on 25/11/2012, in Báo chí.

Văn Học Mậu Dịch cạn vốn hay phá sản?

Hữu Lý phỏng vấn Nguyễn Hoàng Đức
.
PV: Chào Nguyễn Hoàng Đức “nhà chung cư”. Không rõ tôi nên gọi anh bằng nhà gì?
N H Đ: Gọi tên hay chức danh của người khác là phản ánh trình độ của người gọi. Còn người được gọi chẳng có gì thêm vào sự thật cả.
PV: Vậy tôi xin được gọi anh là nhà lý luận phê bình, như thế nó cũng phù hợp hơn với chủ đề của cuộc nói chuyện này. Thưa anh, sự việc Tạp chí Nhà Văn của Hội Nhà văn đóng cửa. Nó nói lên điều gì?
N H Đ: Đó là tấm bình phong ở thượng tầng đã rớt xuống làm phơi ra tất cả!
P V: Anh có thể lý giải rõ hơn không?

NHĐ: Dân bóng đá có câu “tỉ số nói lên tất cả”. Dân buôn có cách nghĩ “phá sản là cái chết hết chuyện”. Còn trong triết học, người ta bảo “hiện tượng phơi bày bản chất bên trong”. Đây không phải hiện tượng ở ngón tay ngón chân, mà là hiện tượng ở trên đầu. Nó phản ánh bộ não hay kiến trúc thượng tầng được bao cấp về tinh thần lẫn tài chính của của văn học mậu dịch Việt Nam đã phá sản. Hơn cả thế nó phơi ra cái lý do tồn tại của Tạp chí Nhà Văn là không hề có thực hay có nhu cầu.
PV: Tại sao lý do tồn tại lại không có thực?
NHĐ: Vì tạp chí là nơi sinh hoạt tinh thần, nơi trao đổi về học thuật, tư tưởng hay bút pháp. Nhưng các nhà văn của ta luôn lẩn trốn việc sinh hoạt tư tưởng, bằng chứng là, có nhiều nhà văn yêu cầu báo Văn Nghệ mở một trang lý luận phê bình, nhưng báo Văn Nghệ cố tình trì hoãn cách thường trực. Văn học Việt Nam nhẹ cân như thứ cỏ dại hoa lác vớ vẩn được sáng tác bằng những cảm xúc bồng bột tùy tiện, không hề phân định nổi gianh giới giữa làng xã, huyện, tỉnh hay trung ương… vì thế mà người ta rất sợ trang lý luận phê bình như mặt trời soi chiếu sẽ làm héo đám cỏ dại đó. Có một câu rất hay trong Kinh Phúc Âm “họ như đám cỏ dại trên nóc nhà sẽ cháy khô trước khi bị nhổ”. Mấy bài thơ lèo tèo, mấy truyện ngắn “quần cộc” lại háo danh leo lên vũ trường nghệ thuật chẳng khác gì cỏ hoa leo lên mái nhà, lấy làm đắc chí. Nhưng rồi chúng sẽ héo khô mà chẳng cần ai nhổ cả. Sự kiện đóng cửa Tạp Chí Nhà Văn chính là một dấu chứng rõ ràng mười mươi về điều đó.
PV: Anh nói có vẻ chắc như đinh đóng cột vậy?
NHĐ: Tôi là người luôn suy xét vạn vật theo nguyên lý mà.
PV: Nghe nói đó là do vấn đề tài chính. Chẳng hạn, như người ta chỉ ưu tiên rót vốn vào báo Văn Nghệ, rồi bù lỗ cho nó. Còn tạp chí thì bị bỏ rơi?
NHĐ: Bản chất chẳng thể hiện gì khác hơn ngoài hiện tượng. Việc bỏ rơi tạp chí, có nghĩa, người ta không quan tâm đến tạp chí vì không đủ trình độ cũng như xây dựng thói quen tư duy giành cho văn học. Vì không sống bằng tư duy nên người ta sợ sệt và lảng tránh tư duy giống như những con dán sợ ánh sáng vậy. Một nền văn học mà không có tư tưởng, tức không có cái đầu là hệ lập trình thì làm sao có thể tồn tại?! Tạp chí Nhà Văn đóng cửa, còn tờ Văn Nghệ cũng đang hấp hối từ lâu rồi.
PV: Tờ Văn Nghệ là sân chơi chính thống của văn học Việt Nam, nếu nó tiêu vong chẳng lẽ văn học Việt Nam cũng xóa sổ chăng?
NHĐ: Ở Việt Nam vẫn đang tồn tại một sự thật, có nhiều doanh nghiệp đã phá sản rồi nhưng người ta không công bố, tại sao? Vì ở châu Á có tư duy “nước một ngày không thể không có vua”. Do nền chính trị yếu ớt độc tài đầy thù hằn đố kỵ ám toán lẫn nhau, nên vua chết rồi người ta không dám cho phát tang, sợ sinh biến. Trái lại, ở châu Âu do tạo ra được nền chính trị có cơ cấu hợp lý lành mạnh, người ta có thể vắng vua cả tháng không sao cả, và ai cũng có thể điều hành, nên người ta không phải bôi phết lên những duy trì phá sản làm bình phong để trộ người đời. Ông Nguyễn Chí Huân Tổng biên tập báo Văn Nghệ cách đây ít tháng có trả lời trên truyền hình rằng: báo Văn Nghệ ngày nay sụt ti-ra, xuống cấp vì các nhà văn, nhà thơ tài ba của “hệ thống” (tức mậu dịch) không chịu gửi bài nữa. Theo tôi đây là cách nói sàng xê tháu cáy. Chúng ta phải nói thẳng thế này: Báo Văn Nghệ xuống cấp là vì các nhà văn, nhà thơ đã cạn sạch vốn liếng rồi. Không thể nào gượng nổi! Hãy điểm danh các khuôn mặt thì rõ. Phải nhìn kỹ hơn xuống móng nhà thì thấy: văn học mậu dịch không còn vỉa quặng tiềm năng nào cả. Tất cả đã là mỏ lộ thiên khai quật hết từ lâu, sẽ chẳng có gì để bất ngờ nữa. Tất cả tài năng như cá mè đã nổi hết trên mặt báo, không còn cá ăn dưới đáy nữa. Làm sao trong đàn cá mè đó lại xuất hiện một con cá voi cho được? Có câu Phúc Âm rằng “con phải là muối để ướp cho người khác mặn”. Nhà thơ ở ta là muối đã hết vị mặn, làm sao có thể ướp thành món ăn cho được?! Có một nhà văn miêu tả thế này: thuốc bắc có thể nấu ba nước. Nhà văn Việt Nam trong ngần ấy năm trời đun lấy sáu bảy chục nước, nó tạo ra mùi lờ lợ thum thủm còn không bổ bằng nước lã. Vì nước lã có thể giải khát. Còn cái nước lờ lợ kia ai dám uống?
PV: Thế còn những cây bút trẻ thì sao? Nghe nói họ viết hậu hiện đại lắm?
NHĐ: Có câu nói rằng “Hậu hiện đại không phải chiếc túi đồng nát đựng những trò phá sản”. Đừng tưởng ba cái văn học viết ở bến đợi xe, hay cấp tốc trên điện thoại sẽ trở thành giấc mơ hậu hiện đại. Ở đời không có vinh quang nào không trả giá. Người Việt nói “thầy già, con hát trẻ”. Nhà văn là thứ thầy đời đừng có ảo tưởng về độ tuổi măng non của mình?
PV: Nhân đây xin hỏi anh một việc, nhiều lần khi ngồi bên nhau, chúng tôi cứ xuýt xoa rằng các nhà thơ của ta tài lắm, bằng chứng là các nhà thơ giữ chức lãnh đạo hiều hơn hẳn các nhà văn?
NHĐ: Tôi xin đáp lại bằng một câu chuyện có thực. Nguyễn Đình Thi luôn luôn nhận mình là một nhà thơ, và tất nhiên ông là một nhà thơ cũng thành công bậc nhất về đường quan lại. Trong sổ tay của ông, có lẽ câu chuyện mà ông khâm phục nhất là chuyện ông đến khuyên nhà văn Nguyên Hồng hãy ở lại Hội Nhà văn. Nhưng Nguyên Hồng rũ áo ra đi trong một buổi chiều qua một sớm mai. Nguyễn Đình Thi đã hạ một thán từ khâm phục “Nhà văn thì phải thế!” Đó là một sự khâm phục cả đời Nguyễn Đình Thi không làm được mà chỉ khao khát! Những người yếu đuối họ thường muốn cộng thêm chức vụ vào tài năng của mình, để “kiễng chân” trên chiếc ghế bảo hiểm. Các nhà thơ khôn ngoan ư? Một chức trung ương ủy viên thôi họ đã chạm ngón chân vào chưa hay bị rớt ngay vòng loại. Họ được phân chức cao chính vì là thứ đầu sai dễ bảo an toàn. Còn một điều này nữa, không ít nhà thơ tự giới thiệu nâng cấp mình thành “nhà văn”, thì có phải chứng tỏ chính họ thấy danh nhà thơ là kém cỏi hơn danh nhà văn không?
PV: Tại sao các nhà thơ không trúng ủy viên trung ương cho dù rất muốn?
NHĐ: Vì họ đâu có hiểu các lãnh tụ chính trị coi thường họ đến thế nào. Chính trị chỉ coi văn thơ không có tư tưởng là chậu hoa cây cảnh tuyên truyền làm dáng cho thể chế. Trong quân đội và công an người ta không cho lái xe lâu năm quân hàm chức đại tá, vì anh là lái xe, chứ là cái thá gì để lên cấp tướng. Còn các nhà văn nhà thơ bao cấp cũng vậy, anh là thứ chậu hoa cây cảnh anh lên trung ương làm gì?! Có nhà lãnh đạo kia đã nói thẳng về cánh văn sĩ Việt Nam rằng không có hiền sĩ lớn, rặt một cánh học hành nửa vời, nửa chữ tác nửa chữ tộ, dăm câu ba điều thơ phú… Trình độ chậu hoa cây cảnh có khôn thì cũng chỉ là thứ khôn ứng xử vụn vặt, đáng gì mà khoe ?!
PV: Có nhiều lần, chúng tôi hỏi nhau, tại sao có nhiều nhà văn, nhà thơ của Nga tự tử, còn ở ta thì không? Đó có phải do trình độ của lương tâm không?
NHĐ: Nhà văn chúng ta đâu có hình thành lý tưởng để mà tuyệt vọng. Một khi không với tới lý tưởng của mình, người ta mới tuyệt vọng. Một con lạc đà muốn băng qua sa mạc đi tìm con đường tơ lụa chẳng hạn, khi thất bại nó mới tự tử. Đằng này con vịt lạch bạch từ ao lên vườn, lại từ vườn xuống ao. Chân trời của nó là viền ao, khát nước cúi cổ xuống uống. Làm sao nó có thể có được cảm giác thất bại về cuộc hành trình băng sa mạc. Hầu hết nhà thơ ở ta là bồng bột đột xuất làm thơ tài tử giống mấy ông hưu trí làm thơ mua vui vậy. Trong họ đâu có hình thành bất cứ cái gì gọi là “sứ mệnh” phải viết văn. Chẳng hạn như Văn hào Lỗ Tấn trở thành cha đẻ của văn học hiện đại Trung Quốc, mới đầu ông hành nghề y, sau ông nghĩ, nếu theo nghề y, giỏi lắm ông cứu được nghìn người, nhưng theo nghiệp văn học ông sẽ cứu được cả vạn tâm hồn. Và ông đã theo đuổi nghề văn như một sứ mệnh.
PV: Này, có lẽ chúng ta dừng ở đây. Có người nói, anh có vẻ cay nghiệt với nền văn học mậu dịch, vì anh không được dùng?
NHĐ: Tôi không được dùng! Cảm ơn đó là ý kiến xác đáng tự bạn đã nói lên. Còn cay nghiệt ư? Tại sao bạn không nghĩ rằng tôi đang nói sự thật? Sự thật dù nó ngọt hay cay, thì cũng đều là sự thật mà. Còn bạn đánh giá tài năng văn học của tôi thế nào?
PV: Tôi biết anh đã ném rất nhiều găng về lý luận, về thơ, cả triết học nữa, cho đến giờ vẫn chưa có người bắt găng chính thức, nếu có chỉ là vài cái comments ẩn tên. Có nhiều người nói “dù sao anh cũng có bóng dáng của một cây bút lớn cả lý luận, cả văn, và thơ. Còn ở những người khác chúng ta vẫn phải đang thắp đuốc đi tìm”.
NHĐ: Vậy thì bạn nên nghĩ tôi là một người bao dung, bởi vì cho đến nay, tôi cũng chưa một lần có được cơ hội đăng một bài thơ trên báo Văn Nghệ, trong khi đó tất cả những người có thơ chọn để đăng trên đó, thậm chí có rất nhiều giải thưởng nữa lại đang biến báo Văn Nghệ thành sọt rác hấp hối bởi chính thứ văn thơ công-nông-binh viết văn bằng cảm xúc tay trái.
PV: Xin hẹn gặp anh lần sau. Chúng ta sẽ bàn thẳng vào bút pháp và tư tưởng của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam.
NHĐ: Tôi rất sẵn sàng. Cám ơn!
Hữu Lý thực hiện 24/11/2012
NHĐ gửi qua email
This entry was posted on 25/11/2012, in Báo chí.

Chặn đường kêu oan

Huỳnh Văn Úc
.
Dưới thời vua Tống Nhân Tông (trị vì từ năm 1022 đến năm 1063) Trần Thế Mỹ là một thư sinh nghèo khó ở Hồ Nam, có vợ là Tần Hương Liên và có hai đứa con. Tần Hương Liên đầu tắt mặt tối làm lụng nuôi Trần Thế Mỹ ăn học. Đến kỳ thi Trần Thế Mỹ lên kinh đô ứng thí và đỗ trạng nguyên. Tân khoa trạng nguyên Thế Mỹ được thái hậu kén làm phò mã. Sau khi trở thành phò mã Trần Thế Mỹ muốn quên đi quá khứ, ruồng bỏ vợ con. Tần Hương Liên dẫn hai đứa con vượt ngàn dặm đường lên kinh đô tìm chồng. Trần Thế Mỹ chẳng những không nhận vợ con mà còn sai người đuổi theo tính kế giết hại. Tần Hương Liên uất ức nên giữa đường chặn kiệu của Bao Công đệ đơn kêu oan. Vụ việc của Tần Hương Liên được Bao Công thăng đường xét xử để cuối cùng công lý được sáng tỏ.
Ngày 7/9/2012 ở huyện Di Lương tỉnh Vân Nam xảy ra trận động đất gây thiệt hại cả về người và tài sản. Hàng nghìn ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn, hàng chục vạn ngôi nhà khác bị hư hại. Sáng sớm 8/9/2012 Thủ tướng Ôn Gia Bảo có mặt tại hiện trường thăm hỏi những người bị thương và đích thân chỉ huy các hoạt động cứu hộ. Chưa thật yên tâm với công việc khắc phục hậu quả động đất nên trung tuần tháng 11/2012 Thủ tướng Ôn Gia Bảo lại về thăm huyện Di Lương. Ngày 22/11/2012 tờ Thượng Hải Nhật báo (Shanghai Daily) đưa tin trong chuyến thăm này cô Lương Vĩnh Lan 29 tuổi cùng ba nông dân khác đã quỳ xuống đường chặn đường đoàn xe 30 chiếc chở ông Ôn Gia Bảo để đệ đơn đòi công lý cho một vụ cưỡng chiếm đất đai. Chuyện xảy ra với cô Lương Vĩnh Lan có nội dung na ná giống như nhiều vụ cưỡng chế đất tại Trung Quốc ( và tại Việt Nam). Chính quyền lấy đất nông nghiệp từ tay nông dân để trao lại cho dự án xây cất nhà máy và đền bù với giá 28 nghìn tệ một mẫu ( 1 tệ = 3.300 VND), thấp hơn giá đất ở làng bên (50 nghìn tệ một mẫu). Sau khi quỳ xuống đất dược 5 phút, không rõ tiếng kêu oan của cô Lương Vĩnh Lan đã thấu đến tai Thủ tướng Ôn Gia Bảo hay chưa thì công an đã ập đến còng tay cô và ba người khác vì tội “phá rối trật tự công cộng”. Họ bị giam giữ bảy ngày, bị phạt 1000 tệ và được thả ra vào ngày 20/11/2012.
Hành động của cô Lương Vĩnh Lan có gì đó giống với Tần Hương Liên. Chỉ có điều khác nhau, khác nhau rất căn bản. Đó là người ngồi trên chiếc xe bị chặn đường kêu oan là Ôn Gia Bảo chứ không phải là Bao Công.
H.V.U
Tác giả gửi qua email
This entry was posted on 25/11/2012, in Báo chí.

Bài tham gia cuộc “thi” dịch văn xuôi ra thơ Đường luật (phần 4)

Bài tham gia cuộc “thi” dịch văn xuôi ra thơ Đường luật (phần 4)

.

Hôm nay nhà cháu lại tiếp tục đọc thơ của các bác gửi tới.

21. Sau khi đọc các lời bình và ngâm cứu lại, bác Nguyễn Tâm Thiện viết thêm bài:

Yên Trung lặng lẽ chốn cao san
Chỉ tiếng chim gù vọng chứa chan
Óng ánh lòng hồ trăng vãi
Ì ầm ĐỈNH núi suối tuôn tràn
Ngàn thông sừng sững xua mây toả
Lũ cá lao xao hất sóng lan
Một bước lạc vào tiên cảnh thực
Biết đâu phú quý với cơ hàn ???

Tiếp tục đọc