Archive | 05/01/2013

Đơn tố cáo của Nguyễn Hoàng Vi

TPHCM, ngày 04 tháng 01 năm 2013.
ĐƠN TỐ CÁO
V/v bắt giữ tùy tiện, tra tấn và làm nhục công dân (Nguyễn Hoàng Vi)
Kính gửi:
– Ông Nguyễn Chí Thành – Giám đốc Công an TP.HCM.
– Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM.
– Thanh tra Công an TPHCM.
– Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM.
– Hội Phụ nữ TP.HCM.
– Ủy Ban Các vấn đề xã hội Quốc hội.
– Các cơ quan Truyền thông báo chí trong và ngoài nước.
– Bà Lê Hiền Đức – Công dân chống tham nhũng.
Tôi tên: NGUYỄN HOÀNG VI
Sinh ngày: 03/04/1987.
CMND : 025121325
Cấp ngày: 23/06/2009, Nơi cấp: CA.TPHCM.
Thường trú: 107/22 Phan Văn Năm, P. Phú Thạnh, Q. Tân Phú, TPHCM.
Tôi trình bày sự việc như sau:
1. Khoảng hơn 8h sáng ngày 28/12/2012, khi tôi ngồi chơi ở công viên Bách Tùng Diệp đối diện Tòa án Nhân dân TPHCM thì vô cớ bị rất đông công an mặc sắc phục, trật tự đô thị và những người mặc thường phục đòi kiểm tra giấy tờ. Sau đó những người này bắt tôi về đồn Công an P. Nguyễn Cư Trinh – Q1.
2. Trên xe và trong đồn công an, những người an ninh mặc thường phục đã cướp mất 2 cái điện thoại và toàn bộ giấy tờ tùy thân, tiền bạc của tôi và họ đánh đập tôi rất dã man.
Sau khi đánh tôi, họ bỏ ra ngoài hội ý gì đó với nhau. Khi quay lại, một chị an ninh mặc thường phục bắt tôi phải cởi hết quần áo để khám xét người mà không hề có bất cứ một lệnh nào hết. Tôi không đồng ý, chị ta và một vài người nữa cưỡng chế lột hết quần áo tôi ra (chỉ chừa lại đồ lót) trong sự chứng kiến của các anh an ninh mặc thường phục khác. Và điều ngạc nhiên là họ ngang nhiên quay phim lại cảnh lột đồ và cảnh tôi chỉ còn bộ đồ lót trên người rất lâu.
Quay phim chán chê, họ lại bỏ ra ngoài hội ý tiếp với nhau. Tình trạng sức khỏe lúc đó của tôi không được tốt: vừa đau, vừa mệt, vừa đuối sức, cơ thể tôi bắt đầu trở nên lạnh run và nôn mửa liên tục, họ không thèm quan tâm.
Sau một lúc hội ý với nhau, họ trở vào bắt tôi phải lột hết đồ lót để tiếp tục khám người. Tôi vẫn không đồng ý. Họ cho 4 người cưỡng chế thô bạo, khiêng tôi đặt nằm lên bàn làm việc trong phòng làm việc, lột hết những mảnh vải cuối cùng còn sót lại trên người tôi. Sau đó, họ – gồm 4 người phụ nữ – người nắm tay, nắm chân kéo 2 tay 2 chân tôi dang ra, rồi dùng tay chọc vào chỗ kín của tôi trước sự chứng kiến của các nam an ninh khác khiến tôi rất đau đớn về thể xác lẫn tinh thần. Tôi chỉ biết đau đớn thét lớn, nhưng những người còn lại không có bất cứ phản ứng gì.
Xong mọi việc, những người an ninh mặc thường phục tự làm giấy tờ, biên bản gì đó với nhau mà không cho tôi biết nội dung. Trong lúc đó, cô bé an ninh Q1 đã nói với những người khác là: “Chú Hải bảo làm như vậy”. Tôi sực nhớ có lần những người bạn của chị Tạ Phong Tần từng kể cho tôi nghe về những việc làm sai trái của tên Lê Minh Hải, trong đó có việc làm nhục chị Tạ Phong Tần như đã làm với tôi.
Khoảng hơn 12h trưa, họ đưa tôi về công an P. Phú Thạnh – Q. Tân Phú và tiếp tục giam giữ tôi tại đó đến gần 19h mới cho ra về.
Qua sự việc trên, tôi tố cáo lực lượng an ninh TPHCM, đội an ninh Q1 và công an P. Nguyễn Cư Trinh – Q1 đã có những hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật nước CHXHCN Việt Nam:
– Bắt cóc và giam giữ tùy tiện trái pháp luật đối với tôi từ hơn 9h30 sáng đến gần 19h cùng ngày 28/12/2012.
– Đánh đập, tra tấn, xâm phạm và xúc phạm một cách nghiêm trọng đến quyền bất khả xâm phạm thân thể, danh dự và nhân phẩm của tôi.
Vì vậy, tôi đề nghị:
– Quý cơ quan chức năng có thẩm quyền nghiêm trị những hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật nước CNXHCN Việt Nam của những tổ chức và cá nhân liên quan đến vụ việc trên.
– Đại diện của các cơ quan, tổ chức có liên quan phải công khai xin lỗi và bồi thường những thiệt hại, tổn thương về sức khỏe, tinh thần, danh dự và nhân phẩm của tôi.
– Lực lượng an ninh, công an, dân phòng, trật tự đô thị, thanh niên xung phong,… phải chấm dứt tình trạng bắt giữ tùy tiện, tra tấn và dùng nhục hình đối với công dân.
– Tôi kêu gọi tất cả những cá nhân và tổ chức cùng quan tâm, giúp đỡ và lên tiếng bảo vệ cho trường hợp của tôi, để những hành vi tương tự sẽ không tiếp tục tái diễn đối với những công dân khác.
Trân trọng
Nguyễn Hoàng Vi

tc1

tc2

tc3

.

Quan tham chơi cờ

“ Quan tham” rất thích chơi cờ.
Tưởng quan giải trí, ai ngờ học mưu.
Hiểm – sâu những nước tối ưu.
Khi cần áp dụng tự cưu mang mình.
“Cờ đời” – nguy ngập – rối tinh.
Học cụ Đế Thích hy sinh tốt rồi.
Sĩ – Tượng – Xe – Pháo – Mã ơi.
Yên tâm ta sẽ lựa lời mà ghi.
Gọi là “thiếu – trách – nhiệm” đi.
“Phê bình – khiển trách” khác gì… mát xa.
Vô thưởng vô phạt ấy mà.
Làm phép chiếu lệ thế là…khỏi lo.
“Thí tốt”để tránh rủi ro.
Vật tế thần ấy chết co một mình.

Đào sỹ Qúy

Tác giả gửi cho NTT blog

This entry was posted on 05/01/2013, in Thơ.

Hạt tiêu tuy bé mà cay

Huỳnh Văn Úc
Năm 2012 Campuchia là nước chủ tịch luân phiên của ASEAN. Đầu tháng 7/2012 Diễn đàn an ninh khu vực gọi tắt là ARF họp tại Phnom Penh. Diễn đàn mang khẩu hiệu ‘One Comunity, One Destinity – Một cộng đồng, một số phận’. Sau năm ngày hội họp căng thẳng, ngày cuối cùng của Diễn đàn 13/7/2012 mười ngoại trưởng ASEAN và tám ngoại trưởng các nước khác trong đó có Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc và Úc đã tốn nhiều lời để tranh cãi nhưng cuối cùng không thể ra được Tuyên bố chung của Hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 45 gọi tắt là AMM. Đó là điều chưa từng xảy ra trong lịch sử 45 năm tồn tại của ASEAN. Bộ trưởng Ngoại giao Singapore K. Shanmugam tuyên bố kết quả của hội nghị đã làm sứt mẻ nghiêm trọng uy tín của ASEAN.Tổng thư ký ASEAN ông Surin Pitsuwan thuyết phục Campuchia đưa vấn đề tranh chấp Bãi cạn Scarborough giữa Philippines và Trung Quốc vào Tuyên bố chung nhưng ngoại trưởng Campuchia Hor Namhong cắt ngang phát biểu của ông và khăng khăng phản đối yêu cầu của Philippines.
Brunei là nước Chủ tịch ASEAN năm 2013. Là một nước đất không rộng (diện tích 5,765 km2), người không đông (dân số 374.000 người) nằm trên đảo Borneo, ngoài đường bờ biển ở Biển Đông nước này hoàn toàn bị phần phía đông của Malaysia bao bọc. Những vấn đề nổi cộm của Biển Đông bị Campuchia nhấn chìm trong năm 2012 sẽ nổi lên trở lại trong năm 2013 cùng với việc Brunei lên nắm quyền Chủ tịch ASEAN. Tờ nhật báo The Brunei Times ngày 3/1/2013 đưa tin trong cuộc họp báo tại thủ đô Bandar Seri Begawan các quan chức Bộ Ngoại giao và Thương mại Brunei khi nêu bật các ưu tiên chính trị và an ninh của vương quốc này trong tư cách là chủ tịch đương nhiệm ASEAN, đã nói rõ thêm là Brunei rất thiết tha với việc tìm ra một bộ quy tắc ứng xử giữa các bên tranh chấp tại Biển Đông. Bộ quy tắc này, mà việc đàm phán đã bị trì hoãn vào năm 2012 ở Campuchia, được xem như là một phương cách tốt để giảm thiểu nguy cơ xung đột vũ trang liên quan đến việc thăm dò và khai thác dầu khí, đánh cá và vận chuyển hàng hải trong khu vực tranh chấp.
Đường lưỡi bò của Trung Quốc chiếm gần như toàn bộ vùng biển được cho là có trữ lượng dầu khí dồi dào, đồng thời là nơi có những tuyến hàng hải quan trọng của Biển Đông. Yêu sách của Trung Quốc đi ngược lại các đòi hỏi của các láng giềng – trong đó có 4 nước Đông Nam Á là Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam – cũng tuyên bố chủ quyền trên một phần Biển Đông. Vì vậy Brunei tuyên bố thiết tha với việc tìm ra một bộ quy tắc ứng xử giữa các bên tranh chấp tại Biển Đông là lẽ đương nhiên. Brunei là một nước nhỏ. Nhưng thiên hạ nên nhớ rằng: “Hạt tiêu tuy bé mà cay”.
Ảnh: Đường lưỡi bò
Tác giả gửi cho NTT blog
This entry was posted on 05/01/2013, in Báo chí.

Việt – Trung: ‘Những điều không thể không nói’

Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần gụi, tương đồng. Không chỉ tương đồng về chế độ chính trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng giềng, ở sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít nhất mối quan hệ này đã tồn tại từ khi lịch sử thành văn được ghi lại, hơn hai ngàn năm trước.
Một ví dụ là ngay từ thời Tần Thủy Hoàng đã lưu truyền câu truyện về tướng Lý Ông Trọng, một người to lớn dị thường và có tài thao lược của đất Giao Chỉ, làm đến chức Tư lệ hiệu úy của nước Tần, giúp Hoàng đế dẹp loạn miền Tây Vực khiến quân Hung nô còn khiếp oai ngay cả khi ông đã nằm xuống.
Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sự tranh chấp về lợi ích lãnh thổ có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát và phủ mây đen lên mối quan hệ ấy.
Trong tinh thần đó, chúng tôi hoan nghênh loạt bài viết dưới mái chung: “Những điều không thể không nói ra” mà Tạp chí “Tri thức thế giới” của Trung Quốc đăng tải vào dịp này năm ngoái. Đó là các bài: “Lịch sử và sự thật: Diễn biến quan hệ Trung – Việt trước năm 1949” (Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu lịch sử biên cương, Viện KHXH Trung Quốc) -“Quan hệ Trung – Việt từ 1949 đến nay” ( Vu Hướng Đông, Giám đốc Học viện Chủ nghĩa Mác, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Những biến thiên trăm năm qua trong chiến lược ngoại giao với các nước lớn của Việt Nam” (Tôn Hồng Niên, Vương Thâm, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ” (Lục Đức An, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) và “Vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á” (Trương Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Tế Nam).
Tất cả được đăng trong số 14, ra tháng 7 năm 2011. Như cách đặt vấn đề và như chúng tôi có thể hiểu, các tác giả muốn vẽ lên một bức tranh chân thực về những gì diễn ra trước hết trong quan hệ Việt – Trung, và sau nữa là trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó góp phần điều chỉnh nhận thức của người này người khác, ở phía bên này hoặc bên kia.Ý định ấy là tốt và cần thiết. Lời lẽ trong các bài viết cũng tương đối vừa phải, trừ vài ngoại lệ.
Tuy nhiên, hoặc do quan điểm, nhận thức, hoặc do nguồn tư liệu dựa vào thiếu khách quan, nhiều nội dung trong loạt bài này đã không phản ánh sự thật, làm hỏng mục đích mà người viết có thể muốn đặt ra.
Vì một số lý do, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chưa có ý định trao đổi toàn bộ và triệt để các vấn đề mà “Những điều không thể không nói ra” đã đề cập. Chúng ta còn có nhiều dịp và nhiều cách để cùng nhau tìm đến sự thật.
* *
1. Lịch sử thành văn của nước Việt – nghĩa là những điều được ghi lại trên giấy trắng mực đen – xuất hiện khá muộn, hàng ngàn năm sau công nguyên. Hai lý do chủ yếu: chữ viết xuất hiện muộn và cả một thiên niên kỷ mất độc lập được gọi là “thời kỳ Bắc thuộc” – một ngàn năm Bắc thuộc. Lịch sử Việt Nam trong những năm tháng này còn là một phần lịch sử Trung Hoa, điều dù muốn hay không cũng phải thừa nhận. Và dù muốn hay không cũng phải thừa nhận, với Việt Nam một ngàn năm ấy là một ngàn năm không bình yên, nói một cách khiêm tốn.
Liệu có cần thiết phải nhắc lại những chuyện ” sát phu, hiếp phụ”, “bỏ xác cho hổ đói lên rừng bắt chim chả, chặt ngà voi; chịu để giao long ăn thịt xuống biển mò ngọc trai, kiếm đồi mồi” cung phụng các quan cai trị? Rồi một ngàn năm độc lập, những cuộc xâm lược từ phương Bắc đã để lại những gì tưởng chỉ cần nhắc đến một câu của thi hào Nguyễn Trãi thế kỷ thứ XV, “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / Vùi con đỏ dưới hầm tai họa”, viết trong ” Đại cáo bình Ngô”.
Những cuộc xâm lược của Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam đều hết sức khốc liệt, đâu có phải quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ này”trên tổng thể là hòa bình, hữu nghị”. Tác giả của “Diễn biến quan hệ Việt – Trung trước năm 1949″chỉ thừa nhận một cuộc xâm lược đến từ phía Bắc, đó là cuộc xâm lược của nhà Nguyên trong thời kỳ này (và lịch sử chính thống của Trung Quốc cũng chỉ thừa nhận như vậy) còn thì “phần nhiều những cuộc xung đột và chiến tranh giữa hai nước là do giới phong kiến Việt Nam quấy nhiễu biên giới Trung Quốc gây ra”.
Cần phải nói rõ những điều này. Một, chỉ một lần duy nhất nhà nước phong kiến Việt Nam có cuộc Bắc phạt và cũng chỉ với một mục đích duy nhất là phá cuộc chuẩn bị xâm lược Việt Nam của nhà Tống. Đó là vào ngay thời kỳ đầu sau Bắc thuộc, năm 1075, nhà Lý (Việt Nam) phát hiện nhà Tống (Trung Quốc) lập các tiền đồn tích trữ binh lương ở Quảng Tây nhằm chuẩn bị tiến đánh “Giao Châu” (nước Việt) nên đã xuất quân, đánh xong lập tức rút ngay về phòng ngự mà vẫn không tránh khỏi cuộc tiến quân ồ ạt sau đó của nhà Tống.
“Hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới”. Tác giả: Nhan Sáng/ Ảnh đoạt giải cuộc thi Khoảnh khắc vàng
Hai, có lẽ chỉ dựa vào chính sử do các triều đại phong kiến Trung Quốc để lại mà các tác giả của “Những điều không thể không nói ra” không thừa nhận có các cuộc xâm lược Việt Nam của Tống, Minh, Thanh. Bởi vì “chính sử” luôn tìm cách mô tả đấy là những cuộc hành binh khôi phục trật tự, lập lại ngôi vương chính danh được các triều đình phong kiến Trung Quốc thừa nhận (nhưng là những phế để, phế triều đã bị sóng triều lịch sử Việt Nam gom về bến rác).
Sự thực như thế nào? Lấy ví dụ cuộc tiến quân dưới danh nghĩa “phù Trần, diệt Hồ” của nhà Minh đầu thế kỷ XV. “Phù Trần diệt Hồ” ở chỗ nào khi diệt xong cha con Hồ Quý Ly rồi liền bắt các kỳ hào, bô lão ký vào một tờ biểu dâng lên rằng: “Nay họ Trần không còn ai nữa, vả đất An Nam vốn là Giao Châu ngày trước, xin được đặt lại quận huyện như cũ” (theo “Minh sử”).
Nhưng có một thực tế là con cháu nhà Trần vẫn nổi lên ầm ầm chống lại quân Minh, lập nên một triều đại được lịch sử gọi là “kỷ Hậu Trần” thì người Minh lại gọi là “giặc” và phái binh đàn áp! Một thời kỳ “Bắc thuộc mới” kéo dài 20 năm với chính sách đồng hóa quyết liệt (tất cả sử sách nước Nam đều bị thu hết về Kim Lăng), với sưu cao thuế nặng, bắt phu khai mỏ vàng mỏ bạc rồi “chim chả, ngà voi” tận thu tận diệt khiến dân tình vô cùng khổ sở. Phải một cuộc kháng chiến gian khổ máu xương dằng dặc 10 năm của Lê Lợi – Nguyễn Trãi cuối cùng mới đưa được “cuộc phù Trần” về bên kia biên giới.
Làm sao có thể nói trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam ở thiên niên kỷ thứ hai, “giới thống trị Trung Quốc bấy giờ hoàn toàn không chủ động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam” được? Và ngay trong thời kỳ được coi là giao kết hòa hiếu giữa hai nước trong quan hệ “tông phiên” thì các triều đình phong kiến Việt Nam vẫn luôn bị sách nhiễu, áp lực.
Chỉ riêng việc đòi hỏi cung phụng, cống nạp – nhất là những sản vật quý hiếm – cũng trở thành gánh nặng tài chính cho nước Việt, gánh nặng khổ ải cho thứ dân, không thể nói là “không đáng kể”, “tổng giá trị (của các đồ cống nạp) luôn thấp hơn đồ “hồi tặng” (từ phía triều đình Trung Quốc)” được.
Năm 1950, khi đích thân tiếp và tiễn đoàn cố vấn quân sự của nước Trung Hoa nhân dân sang giúp Việt Nam kháng Pháp, Chủ tịch Mao Trạch Đông căn dặn:”Các đồng chí phải nói với nhân dân Việt Nam rằng tổ tiên chúng ta đã có lỗi với Việt Nam, chúng ta xin tạ tội và nguyện một lòng một dạ ra sức giúp Việt Nam đánh bại thực dân Pháp” (trích Hồi ký xuất bản bằng tiếng Hán của các Cố vấn Trương Quang Hoa, Vũ Hóa Thẩm, Đặng Kim Ba).
Thủ tướng Chu Ân Lai trong lần đầu tiên sang thăm Việt Nam năm 1955, việc đầu tiên mà ông làm là đến thắp hương Đền thờ Hai Bà Trưng, những nữ tướng Việt Nam kiệt xuất trong thế kỷ thứ nhất cầm quân nổi dậy chống quân xâm lược nhà Hán và đã anh dũng hy sinh. Thiết nghĩ không cần phải dẫn thêm những ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo khác như Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh… xung quanh vấn đề này.
Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định, mối quan hệ tổng thể giữa hai nước láng giềng Việt Nam và Trung Quốc suốt mấy ngàn năm lịch sử không phải là một bức tranh tối màu, nhất là quan hệ dân gian. Trong sự phát triển và trưởng thành của mình, người Việt, nước Việt đã tiếp thu và học tập được nhiều từ nền văn hóa – văn minh Trung Hoa. Đấy cũng là một trong nguyên nhân dẫn đến sự gần gụi, hiểu biết giữa nhân dân hai nước. Đấy cũng là thực tế hiển nhiên không thể phủ định. Không thể có chuyện giới nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong trăn trở tìm về nguồn cội lại bỏ qua những giá trị xác định để thay bằng những lập luận”khoác lác”, “hư cấu”? Càng không thể tưởng tượng ra rằng nó có mục đích “đưa vào nội dung giáo dục quốc dân” để làm băng hoại quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.
2. Nửa sau của thế kỷ trước (thế kỷ XX), Việt Nam đã phải liên tục chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh không cân sức: Kháng Pháp và kháng Mỹ. Cùng với nhân dân toàn thế giới, Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Vào thời kỳ cao điểm, khi Mỹ trực tiếp đổ quân vào tham chiến – có lúc lên đến hơn nửa triệu – nhiều chính phủ và tổ chức nhân dân trên thế giới đã tuyên bố sẵn sàng gửi quân chí nguyện đến giúp đỡ Việt Nam, nếu được phía Việt Nam chấp nhận.
Với tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính và cũng xét tới các hệ lụy, Chính phủ Việt Nam không chủ trương nhận quân tình nguyện chiến đấu, đặc biệt là bộ binh, và đã bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình đến thiện chí năm châu. Những quân nhân nước ngoài có mặt ở phía Bắc Việt Nam lúc ấy bao gồm một số lượng hạn chế các cố vấn và chuyên gia quân sự Liên Xô trong các binh chủng kỹ thuật (tên lửa phòng không, không quân …), một vài biên đội không quân của CHDCND Triều Tiên mà lãnh đạo nước này mong muốn được đưa sang để thực tập chiến đấu.
Chính phủ Trung Quốc cũng đã nhiều lần bày tỏ thiện chí sẵn sàng gửi quân tình nguyện đến Việt Nam trong các tuyên bố công khai cũng như trong những lần gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo Việt Nam. Kết quả là đã dẫn tới các ký kết giữa hai nước về việc đưa bộ đội hậu cần (công binh) của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào giúp việc khắc phục giao thông bị phá hoại bởi cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở Miền Bắc.
Trung Quốc cũng đề nghị đưa vào cả bộ đội pháo cao xạ để bảo vệ lực lượng công binh tác nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến lực lượng này. Người yêu cầu các nhà lãnh đạo Quân đội Việt Nam không đưa bộ đội Trung Quốc đến những vùng quá khó khăn ác liệt vì bạn chưa quen.
Thời kỳ đó, không quân Mỹ chia chiến trường Bắc Việt Nam thành ba vùng tác chiến: Vùng đánh phá tự do suốt ngày đêm từ Thanh Hóa trở vào vĩ tuyến 17, là vùng ác liệt nhất. Vùng thứ hai, vùng đánh phá có trọng điểm bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các vị trí chiến lược phía nam đường số 5. Vùng thứ ba, đánh phá có chọn lọc, là các tuyến giao thông phía bắc đường số 5.
Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ đội Trung Quốc đã được bố trí tác nghiệp trong vùng từ phía bắc đường số 5 đến biên giới Việt – Trung. Các lực lượng chí nguyện Quân Giải phòng Trung Quốc đã chiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, quên mình vì nghĩa lớn, đồng cam cộng khổ với nhân dân Việt Nam, không chỉ góp phần khắc phục đường sá bị phá hoại, giúp Việt Nam làm mới nhiều con đường, nhiều công trình mà còn tham gia chiến đấu, trực tiếp bắn rơi hơn 100 máy bay Mỹ. Tổng cộng đã có hơn 310.000 lượt bộ đội Trung Quốc có mặt trên chiến trường miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968 (nói chung, 6 tháng thay quân một lần) trong đó hơn 1000 chiến sĩ hy sinh (hơn 4000, bao gồm cả các chiến sĩ bị thương).
Theo đề nghị của phía Trung Quốc, các liệt sĩ Trung Quốc đã được chôn cất tại trên 40 nghĩa trang ở Việt Nam và hiện nay vẫn được chính quyền và nhân dân các địa phương coi sóc, tu tạo.
3. Phía Trung Quốc từng xuất bản một cuốn sách công bố 7 lần xuất quân ra nước ngoài của Quân Giải phóng Nhân dân từ sau ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, trong đó quá nửa là xuất quân sang Việt Nam. Điều đau lòng là, hầu hết những lần xuất quân đến Việt Nam ấy đều được mô tả là để “đánh trả”, “trừng phạt” cái quốc gia mà Trung Quốc từng coi là anh em (đến bây giờ có lẽ vẫn là “anh em” vì lãnh đạo hai bên nói chung vẫn ôm hôn nhau theo kiểu “các nước anh em” thường làm).
Chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây bản chất các cuộc “đánh trả” và “trừng phạt” ấy – xin trở lại một dịp khác, nếu cần thiết – mà chỉ xin trao đổi những gì liên quan được nêu ra từ các bài viết trong “Những điều không thể không nói ra”.
Thứ nhất, phải khẳng định rằng, trừ cuộc “tiến quân” trong giai đoạn 1965 -1968 nhằm chi viện nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà tôi vừa đề cập, tất cả các cuộc tiến quân khác (1974: đánh chiếm Hoàng Sa – Trung Quốc gọi là Tây Sa; 1979: Chiến tranh biên giới Việt – Trung; 1983 – 1984: đánh chiếm các điểm cao chiến lược ở tỉnh Hà Giang – Trung Quốc gọi là Lão Sơn (và xung quanh); 1988: đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa – Trung Quốc gọi là Nam Sa) đều do Trung Quốc âm thầm khởi binh rồi bất ngờ đánh úp, nhằm lúc đối phương chưa sẵn sàng chuẩn bị. Tất cả đều giống nhau, không ngoại lệ. Làm gì có cái gọi là “sự xâm lăng, khiêu khích từ phía Việt Nam”?Mưu kế chiến tranh từ thời Tôn Tử đã chẳng lạ gì phương sách mà sau này L.Hart và nhiều tác gia quân sự đông tây phải ngả mũ, “Nguyên cớ ư ? Ở ta!”
Thêm nữa, sau năm 1975, mặc dù giành được nguyện vọng ngàn đời là độc lập dân tộc, thống nhất non sông, Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ bởi ba mươi năm chiến tranh (nền kinh tế Việt Nam bị tụt đến đáy trong thập niên 75 – 85 là một minh chứng). Lo ăn, lo mặc cho dân mình còn chưa xong lẽ nào Việt Nam còn muốn mang sức kiệt đi đánh nước người? Mà đó lại là quốc gia hùng mạnh Trung Quốc và còn hơn thế nữa, một đất nước đã có sự ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong kháng chiến! Ơn vừa mới đó mà đã quên được ư? Trọng ơn là truyền thống của dân tộc này, không ai có thể bới ra được chứng cứ ngược lại!
Và do đó phải thừa nhận là Việt Nam đã bị bất ngờ khi cuộc chiến tranh tháng 2/1979 xảy ra. Có thể có xung đột cường độ thấp nhưng là cả một cuộc chiến tranh với sự tiến quân ồ ạt của hàng chục sư đoàn đối phương trên toàn tuyến biên giới là điều chưa được phía Việt Nam tiên liệu.
Thứ hai, cần phải nói rõ một điều: Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) là của một quốc gia nào khác ngoài Việt Nam. Và càng không có việc Việt Nam đã “hoàn toàn thay đổi lập trường”về vấn đề này. Câu chuyện như sau: Năm 1958, sau khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai bày tỏ sự ủng hộ tuyên bố ấy, chỉ đơn giản như vậy. Sự ủng hộ đó là thiện chí nếu tính tới cuộc xung đột giữa nước Trung Hoa nhân dân với Đài Loan trong vùng Kim Môn, Mã Tổ lúc bấy giờ. Còn trong năm 1974, khi xảy ra sự việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa (Tây Sa), chính các bên đang quản lý thực tế vùng biển này là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối.
Thứ ba. Bắt đầu từ sự xâm lược của thực dân Pháp thế kỷ XIX lập nên xứ Đông Dương thuộc Pháp rồi tiếp đến là cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra giữa thế kỷ XX mà mà vận mệnh của ba nước Đông Dương gắn chặt với nhau: chung một kẻ thù, chung một mục đích giải phóng và độc lập dân tộc. Trong cuộc đấu tranh chung, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia anh em và Việt Nam cũng hết lòng vì đất nước và nhân dân bạn. Làm theo lời dạy đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là giúp mình”, hàng chục vạn chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã không tiếc xương máu chiến đấu quên mình trên đất nước Lào và đất nước Campuchia, không nhằm một mục đích tiểu bá, đại bá hay Liên bang Đông Dương nào hết.
Một khi chiến tranh kết thúc, tình hình yên ổn trở lại và được nhân dân bạn cho phép, tất cả các lực lượng này đã rút hết về nước, bao gồm cả những liệt sĩ đã nằm xuống trên đất Lào, Campuchia cũng được quy tập về đất mẹ Việt Nam (con số được quy tập đến nay đã là gần 50.000 liệt sĩ). Việt Nam, Lào, Campuchia ngày nay lại cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển đất nước mình, với tư cách là những quốc gia độc lập, có chế độ chính trị riêng biệt, điều mà cả thế giới đều thấy rõ.
Đáng ngạc nhiên là trong bài “Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á”, tác giả gợi lại vấn đề không có thực là”lãnh thổ K.K.K” và “một phần đất đai Campuchia bị mất vào tay Việt Nam”. Với mục đích gì vậy? Tác giả có biết rằng trong tháng 8 năm 2012 vừa qua chính đại diện của nước CHND Trung Hoa tại Liên Hợp quốc đã bỏ phiếu bác bỏ yêu cầu được có tiếng nói tại tổ chức quốc tế này của cái gọi là “phong trào K.K.K”? Sự trung thực cộng sản – nếu có thể gọi như vậy – là ở chỗ nào?
Thứ tư. Có những sự thực ít người biết đến, nhưng chẳng lẽ những người chủ trì một tạp chí có tên tuổi trong ngành như “Thế giới tri thức” lại ở trong trường hợp như vậy? Tôi muốn đề cập câu chuyện về điểm cao khống chế 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Trong bài “Quan hệ Việt – Trung từ năm 1949 đến nay”, tác giả đã mô tả những trận đánh đẫm máu, ác liệt để giành khu vực này vào năm 1984 như là cuộc chiến đấu vinh quang chống lại sự xâm lược của quân đội Việt Nam.
Hơn nữa, chúng tôi còn được biết, nơi đây nay đang trở thành một điểm du lịch của phía Trung Quốc với những trưng bày và thuyết minh bất chấp chân lý, bất chấp mọi sự nhẫn nhịn, trên thực tế phá hoại quan hệ Việt-Trung mà các bạn bày tỏ muốn vun đắp. Liệu có cần phải đánh thức “sự thật lịch sử”?
Cuối cùng, về câu chuyện hoang đường “Việt Nam bắt nạt Trung Quốc”, “Việt Nam luôn áp dụng phương châm đối đầu trực diện với Trung Quốc, một bước không lùi”, để thay lời kết luận, tôi xin kể hai chuyện nhỏ : Tháng 1/1979, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh trả cuộc xâm lấn toàn diện của chế độ Pôn Pốt với một tốc độ tiến quân mà các hãng thông tin trên thế giới mô tả là nhanh như điện sẹt, các mũi tiến công và vu hồi đã sẵn sàng khép chặt biên giới Campuchia – Thái Lan trong “tích tắc”, thì lập tức nhận được lệnh buông lỏng, nhờ đó mà bộ sậu lãnh đạo Khơme đỏ chạy thoát. Nhưng mục đích đã đạt được: Không để một ai trong số hàng ngàn chuyên gia cố vấn quân sự và dân sự “người nước ngoài” bị kẹt lại hoặc bị bắt giữ.
Câu chuyện thứ hai là tháng 2 năm ấy (1979), bị bất ngờ bởi cuộc tấn công của Quân đội Trung Quốc, các lực lượng phòng ngự Việt Nam tạm thời bị đẩy lui khỏi tuyến biên giới. Nhưng ngay sau cuộc phòng ngự, bộ đội Việt Nam đã tổ chức phản công và một chiến dịch – chiến lược tiến công quy mô với lực lượng mạnh cả xung lực lẫn hỏa lực nhằm vào đối phương đang tập trung ở một thành phố biên giới đã được triển khai. Mọi sự đã sẵn sàng và đây chắc chắn là một đòn giáng trả mạnh mẽ, gây thương vong nặng nề. Chỉ ít giờ trước thời điểm nổ súng, chiến dịch được hủy bỏ khi phía Trung Quốc tuyên bố bắt đầu cuộc triệt thoái.
Thẳng thắn và mà nhìn nhận, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bản chất là một mối quan hệ tích cực và cần phải như vậy. Xin được đề cập đến vào một dịp khác. Bài viết này của tôi không có mục đích tranh luận, ngay cả về phương diện học thuật. Nó đơn giản chỉ là “những điều không thể không nói ra”, không thể không làm rõ vậy thôi.
TS Vũ Cao Phan
—-
Chú thích: Những chữ để nghiêng trong bài này là trích từ “Những điều không thể không nói ra” hoặc từ các cuốn sách xuất bản ở Trung Quốc (TG).
This entry was posted on 05/01/2013, in Báo chí.

Đơn tố cáo của Nguyễn Hoàng Vi

Đơn tố cáo của Nguyễn Hoàng Vi

.                                                     

TPHCM, ngày 04 tháng 01 năm 2013.

ĐƠN TỐ CÁO

V/v bắt giữ tùy tiện, tra tấn và làm nhục công dân (Nguyễn Hoàng Vi)

Kính gửi:

– Ông Nguyễn Chí Thành – Giám đốc Công an TP.HCM.

– Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM.

– Thanh tra Công an TPHCM.

– Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM.

– Hội Phụ nữ TP.HCM.

– Ủy Ban Các vấn đề xã hội Quốc hội.

– Các cơ quan Truyền thông báo chí trong và ngoài nước.

– Bà Lê Hiền Đức – Công dân chống tham nhũng.

Đọc tiếp

Quan tham chơi cờ

Quan tham chơi cờ

.

“ Quan tham” rất thích chơi cờ.
Tưởng quan giải trí, ai ngờ học mưu.
Hiểm – sâu những nước tối ưu.
Khi cần áp dụng tự cưu mang mình.
“Cờ đời” – nguy ngập – rối tinh.
Học cụ Đế Thích hy sinh tốt rồi.
Sĩ – Tượng – Xe – Pháo – Mã ơi.
Yên tâm ta sẽ lựa lời mà ghi.
Gọi là “thiếu – trách – nhiệm” đi.
“Phê bình – khiển trách” khác gì… mát xa.
Vô thưởng vô phạt ấy mà.
Làm phép chiếu lệ thế là…khỏi lo.
“Thí tốt”để tránh rủi ro.
Vật tế thần ấy chết co một mình.

Đào sỹ Qúy

Tác giả gửi cho NTT blog

Hạt tiêu tuy bé mà cay

Hạt tiêu tuy bé mà cay

Huỳnh Văn Úc

 .

Năm 2012 Campuchia là nước chủ tịch luân phiên của ASEAN. Đầu tháng 7/2012 Diễn đàn an ninh khu vực gọi tắt là ARF họp tại Phnom Penh. Diễn đàn mang khẩu hiệu ‘One Comunity, One Destinity – Một cộng đồng, một số phận’. Sau năm ngày hội họp căng thẳng, ngày cuối cùng của Diễn đàn 13/7/2012 mười ngoại trưởng ASEAN và tám ngoại trưởng các nước khác trong đó có Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc và Úc đã tốn nhiều lời để tranh cãi nhưng cuối cùng không thể ra được Tuyên bố chung của Hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 45 gọi tắt là AMM. Đó là điều chưa từng xảy ra trong lịch sử 45 năm tồn tại của ASEAN. Bộ trưởng Ngoại giao Singapore K. Shanmugam tuyên bố kết quả của hội nghị đã làm sứt mẻ nghiêm trọng uy tín của ASEAN. Đọc tiếp

Việt – Trung: ‘Những điều không thể không nói’

Việt – Trung: ‘Những điều không thể không nói’

.

Làm cho nhân dân hai nước hiu được, hiu đúng mi quan h lch s này là mt vic làm cn thiết, thm chí rt cn thiết trong bi cnh hin nay.

Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần gụi, tương đồng. Không chỉ tương đồng về chế độ chính trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng giềng, ở sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít  nhất mối quan hệ này đã tồn tại từ khi lịch sử thành văn được ghi lại, hơn hai ngàn năm trước.

Đọc tiếp