HỒI KÝ: TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CHIẾN TRANH (Phần III)

.

Lệnh động viên cục bộ năm 1971, chuẩn bị cho chiến dịch năm 1972. Chúng tôi rời miền Bắc vào Nam, để bổ xung quân số cho trung đoàn 1 (Đoàn Ba Gia), sư đoàn 2 được gọi là quân giải phóng Miền Nam. Đang dừng chân tại tỉnh Xavannakhet thuộc vương quốc Lào.

Là những lính mới, hàng ngày chúng tôi phải thay nhau đi kiếm rau, đào củ rừng hoặc chặt cây đót lấy nõn để làm thức ăn. Vừa học tập, làm quen với nhiệm vụ của một đơn vị chủ lực, cơ động tác chiến tại địa bàn Tây nguyên và khu 5. Ngoài lúc làm nhiệm vu, anh em lính cũ, lính mới lại chuyện trò tâm sự. Tình cờ được nghe kể lại câu chuyện mà cho đến bây giờ, Tôi vẫn không thể nào quên cho dù đã 42 năm trôi qua: 

Vào một ngày nọ sau cuộc hành quân trên đất Lào, khi đến bãi khách mọi người chuẩn bị căng tăng võng làm chỗ ngủ qua đêm, đồng thời phân công nhau phụ giúp anh nuôi chuẩn bị bữa ăn chiều.

Trời còn sớm, mấy anh lính trẻ rủ nhau ra suối câu cá, cải thiện bữa ăn cho đơn vị. Cần câu đã chuẩn bị xong, họ vào rừng đào giun để làm mồi. Dưới tán cây, thấy một chỗ đất xốp như mới được lấp, họ mừng rỡ vì nghĩ rằng: “Ai đó đã chôn giấu chiến lợi phẩm ở đây”?

Họ ra sức đào bới, bỗng mũi dao găm chạm phải một vật cứng, khi lớp đất được bóc đi. Thì hiện ra chiếc chân người đi chiếc giầy nhỏ, không phải loại giầy của lính ta, thì ra đây là xác của một người con gái. Kinh hoàng trước sự việc trên, họ báo cáo về chỉ huy đơn vị và nhanh chóng được làm rõ: “Đó là xác nữ biệt kích người Lào bị chết và mới được chôn hôm qua”. Chuyện tưởng chẳng có gì lạ, mọi chuyện rồi cũng qua đi, bởi nó là chuyện bình thường trong chiến tranh.

Thế nhưng lại tình cờ, tôi được nghe cậu Tỉnh quê Hải Dương cùng trung đội kể lại rõ ràng sự việc đó:

Sau chiến dịch đường 9 nam Lào tháng 3/1971, chống lại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của quân Mỹ và VNCH. Khi hành quân trên đất Lào, đơn vị bắt được một toán biệt kích của quân chính phủ hoành gia Lào. Chúng gồm có 5 tên, 3 nam và 2 nữ trong đó có 1 nữ rất trẻ khoảng 17 tuổi. Việc áp giải và canh giữ tốp biệt kích này được giao cho đơn vị trinh sát của sư đoàn. Nếu để tốp biệt kích này trốn thoát thì sẽ bị lộ bí mật, hậu quả khôn lường. Nếu trao trả cho bộ đội cộng sản Pathet Lào, thì theo chủ chương của họ, chỉ một thời gian sau chúng lại được thả, do dân số của Lào có ít.

Đơn vị quyết định thủ tiêu tốp biệt kích này, nhưng không dùng súng mà chỉ được dùng dao.

Tỉnh kể tiếp: Em được giao nhiệm vụ giết con biệt kích trẻ. Mấy ngày đầu dẫn nó đi, Em phải canh giữ nó mọi lúc từ đi lại, ăn ngủ, tắm rửa kể cả lúc nó .. đi vệ sinh. Nó trẻ và hồn nhiên, nói cười suốt như là đang đi chơi, chứ không phải đang ở trong cuộc chiến.

Lệnh hành quyết: Ngày cuối cùng, buổi chiều khi đến bãi khách. Em dẫn nó đi vào trong rừng, ra phía bờ suối, thấy lạ nó hỏi: “Mày đưa tao đi đâu”? Em không trả lời, nó lại gặng hỏi, mãi sau em đành phải nói dối là: “Đi gặp chỉ huy”.

Đến nơi thuận tiện có chiếc hố đã đào sẵn, Em trói tay nó ra sau, bịt miệng, đá chân cho nó quỳ xuống. Cảm nhận được sự nguy hiểm, mặt nó tái đi, măt mở tròn đẫm lệ, miêng ú ớ kêu gào, đầu cứ gật lia lịa như để cầu xin tha mạng. Trước cảnh tượng đó, Em như không làm chủ được mình, liền túm tóc ngửa cổ nó lên, vung con lê AR15 nhằm thẳng ngực nó đâm xuống. Máu phụt ra đầy người, nó dẫy dụa, lăn lộn, rống lên những tiếng kêu thảm thiết. Sau nhiều nhát dao, nó lả dần rồi chết. Em vứt dao xuống hố, ra suối tắm sạch máu rồi đi về, việc chôn xác được giao cho người khác.

Chuyện kể tiếp: Bị ám ảnh bởi sự việc trên, Tỉnh bị ốm, sốt cao tâm thần bất ổn, phải đưa về đơn vị quân y điều trị. Có lúc nửa đêm cứ tồng ngồng chạy ra suối nói cười, đùa nghịch, mấy cậu cảnh vệ cũng không giữ nổi. Sau đó phải dùng mấy cô hộ lý trẻ, với lời nói nhẹ nhàng tình cảm, dỗ dành mãi mới đưa được Tỉnh trở về đơn vị. Sau khi bình phục, Tỉnh được điều về làm lính bộ binh.

Trên đường hành quân vào đánh thị xã Kon Tum, khoảng tháng 5/1972. Một hôm vào buổi trưa, đơn vị được lệnh dừng chân nghỉ và ăn cơm. Tôi mở Ănggo, khẩu phần ăn chỉ là những lát sắn khô luộc rồi sào với ít muối.

Bỗng những ánh chớp xanh lóe lên, mọi người vội lao đầu vào chiếc hầm chữ A gần đó. Mặt đất rung chuyển, những tiếng nổ chát chúa, đất đá, cây cối bay tứ tung, từng đợt hơi nóng, khét lẹt ập vào. Đợt 1 .. yên lặng, đợt 2 .. yên lặng, đợt 3 .. yên lặng, một sự yên lặng chết người. Mọi người từ từ rút đầu ra khỏi hầm và quan sát động tĩnh. Trước mắt là một khung cảnh tan hoang, cả một vạt rừng bị san phẳng, không khí đặc sệt mùi thuốc bom. Đâu đây có tiếng kêu rên của thương binh, tiếng gọi nhau ý ới để tìm đồng đội trong số những người đã hy sinh. Đơn vị đã bị trúng bom của máy bay B52.

Tỉnh bị thương cụt 2 chân, đã được băng nhưng máu vẫn chẩy ra nhiều, đang nằm trong cáng đợi chuyển thương, đứng bên cạnh chăm sóc là trung đội phó tên Hòa. Lúc tôi gặp, Tỉnh chỉ nói được một cách yếu ớt: “Anh Dũng ơi, Em bị thương không sống được anh ạ, hãy trả thù cho em”, sau đó ít ngày Tôi được tin Tỉnh đã hy sinh.

Đó là câu chuyện buồn, đối với người lính của cả hai phía chiến tuyến! Liệu cái chết của Tỉnh có liên quan gì tới cái chết của nữ biệt kích Lào kia không?

Thỏa thuận quốc tế giữa 60 nước, về đối xử nhân đạo đối với tù và hàng bình trong chiến tranh. Ký tại Giơnevơ ngày 12.8.1949 có 6 phần, 143 điều, các nước ký kết công ước cam kết:

“Tù bình được nới nhẹ khỏi những điều kiện ngặt nghèo của cuộc sống bị giam giữ tập trung, được chăm sóc về ăn ở, chữa bệnh, được trao đổi thư từ, cầu nguyện, làm lễ theo nghi thức tôn giáo của họ. Khi phạm tội, phạm kỷ luật được xét xử theo nguyên tắc pháp lý chung”. Việt Nam gia nhập công ước vào ngày 5.6.1957.

Việc hành quyết tốp biệt kích người Lào, với hình thức tàn bạo như thời trung cổ đã vi phạm công ước quốc tế, là tội phạm chiến tranh (Điều 343 LHS).

Những sự việc nêu trên đã nói lên điều gì? Thực chất mối quan hệ Việt – Lào như thế nào. Xin hãy để công luận phán xét.

Luận bàn: Vụ hành quyết một cách tàn bạo như trên, xẩy ra trong chiến tranh đã là một điều không thể chấp nhận. Ngày nay tại thủ đô Hà Nội, nơi tập trung các cơ quan đầu não của chế độ, nơi được gọi là “Thành phố vì hòa bình”.

Thế nhưng vụ viên trung tá công an Nguyễn Văn Ninh, vung dùi cui đánh gẫy cổ, dẫn đến cái chết của ông Trịnh Xuân Tùng vào ngày 8/3/2011, ở quận Hai Bà Trưng. Vụ xuyên tạc lời nói của tổng GM Ngô Quang Kiệt, khi làm việc với UBND TP Hà Nội ngày 20/9/2008. Vụ chủ nhiệm UBTP của quốc hội Nguyễn Văn Hiện, ngày 16/9/2003 cướp đất, dồn gia đình gồm 3 thế hệ vào bước đường cùng nhằm bức tử, tại phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân. Tất cả đã nói lên tính chất tàn bạo và sảo trá của những người nhân danh nước cộng hòa XHCN Việt Nam, do Đảng CS lãnh đạo.

Vì vậy yêu cầu bãi bỏ điều 4 HP 1992, thực hiện đa đảng, tam quyền phân lập, đã trở thành tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Một tất yếu khách quan, trong cuộc góp ý sửa đổi Hiến Pháp đang diễn ra hiện nay.

 .

Hà Nội ngày 24 tháng 2 năm 2013

 .

Nơi nhận: Blogger

– Bộ chính trị

– Các cơ quan báo chí trong và ngoài nước.

– Đoàn ĐB Quốc Hội các tỉnh, thành phố

.

Nguyễn Anh Dũng 

Nhà giáo-Cựu chiến binh

Địa chỉ số 5 ngách 12/87 Chính Kinh, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội. ĐT: (04) 38583514, DĐ 0984535494, Gmail: xuannho.vu1@gmail.com

GHI CHÚ: Kèm theo thư ngỏ đề ngày 14/2/2013. Gửi: Bộ chính trị

Tác giả gửi cho NTT blog

Advertisements

27 thoughts on “HỒI KÝ: TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CHIẾN TRANH (Phần III)

  1. Những người Lào này không phải là biệt kích đâu, họ chỉ là dân thường theo đạo phật vào rừng hái măng rừng hay rêu đá dưới suối về làm bữa chẳng may lạc vào đơn vị quân đội nhân dân VN, nếu may mắn hơn họ đã lạc vào đơn vị quân đội “khác”.

  2. Đọc hồi ký chiến tranh mới biết được sự tàn khốc của nó. Anh Dũng ơi! Bao giờ anh hối tiếc việc anh hy sinh để tạo nên một Chế độ phi nhân như hiện nay không? Tôi cũng là người bên kia chiến tuyến với anh, tôi không bao giờ trách anh cả. Thanh niên sống ở chế độ nào thì phải thi hành nghĩa vụ quân sự của chế độ đó. Chỉ tiếc rằng cái chế độ mà biết bao người đã đổ xương máu để tạo nên. Là Chế độ đi ngược lại nguyện vọng của dân hà hiếp bóc lột nhân dân “Như vụ án xử anh em ông Vươn là một”

  3. Pingback: Anhbasam Điểm Tin Thứ bảy, ngày 06 tháng tư năm 2013 | doithoaionline

  4. Lâu lắm mới có một người dũng cảm nói lên sự thật như thế này. Cần rất cần những người như thế.

  5. Pingback: *** TIN NGÀY 6/4/2013 -Thứ Bảy « ttxcc6

  6. Pingback: Một cuộc hành quyết tù binh của Việt cộng. | CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA – HOA KỲ

  7. Hơ,cong những tù nhân CS,dân thường lọt vào tay QLVNCH và quân đồng minh bị tra tấn, giết hại sao không thấy ai nhắc đến vây? Rồi nhà tù Côn Đảo,Phú Quốc hay những vụ như Sơn Mỹ….. Đề nghị bác đưa những thông tin cả 2 phía để đảm bảo tính khách quan.
    Thân.

    • Hình như bác ít đọc báo. Những sự kiện bác nêu có đầy trên báo lề phải , thậm chí là trong sách giáo khoa nữa. Sao lại bảo là không thấy ai nhắc đến?.
      Thí dụ nhá: Lê máy chém đi khắp miền nam..đóng đinh vào đầu..cưa chân 7 lần không thuốc tê..em nhớ không hết nổi đâu bác ợ. Chỉ có điều có thật như thế không?
      Khổ một nỗi có thật thì cũng còn ít người tin…vì CS chuyên “nói thật”

  8. Pingback: NHẬT BÁO BA SÀM : TIN THỨ BẢY 6-4-2013 | Ngoclinhvugia's Blog

  9. Pingback: HỒI KÝ: TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CHIẾN TRANH (Phần III): MỘT CUỘC HÀNH QUYẾT | TIẾNG NÓI VIỆT NAM

  10. Cùng một lý do là sự an toàn của đơn vị, Quân đôi “giải phóng” đã giải phóng theo phương cách man rợ đó, khoảng 6000 người, gồm quân nhân. công chức đi phép, đảng viên các đảng phái, viên chức xã ấp, học sinh sinh viên, giáo sư các loại, kể cả hai giáo sư y khoa người Đức, đã bị chôn sống, đập đầu bằng cuôc hay bất cứ dung cụ nào trong khi rút quân khỏi Huế trong cuộc tân công Mậu Thân năm 68.
    Thành ra giết chỉ hai “BK” người Lào trở thành ” bình thường” mà.

    • Sau 1975 có thương binh CS nhưng không có thương binh cụt chân, tay, hay mù….bác có biết tại sao không?. Em nghe đồn: để không làm chậm bước chân quân giải phóng ta đành hy sinh bằng cách….. bắn luôn.

      • Bác Thụy:
        Không rõ ý bác lắm, cũng có thể ý em không rõ, ý em là thế này: ” quân ta bị thương nặng chưa chết còn hy sinh luôn, huống chi “quân thù”..” Nhưng chỉ là “nghe đồn” thôi bác ơi!

    • Thưa bác Vũ Khoa,
      Thật ra là có đến 4 giáo sư Y khoa người Đức,bác ạ !

  11. Pingback: HỒI KÝ: TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CHIẾN TRANH (Phần III): MỘT CUỘC HÀNH QUYẾT | CHÂU XUÂN NGUYỄN

  12. Pingback: Tin thứ Bảy, 06-04-2013 | Dahanhkhach's Blog

  13. Nhà thơ Trần Đức Thạch cũng là một cựu chiến binh, có viết lại câu chuyện thật của ông trong thời chiến tranh với tựa đề : Hố Chôn Người Ám Ảnh.

    “Hố Chôn Người Ám Ảnh” kể lại trận đánh ở ấp Tân Lập vào cuối tháng 4 năm 75, mà nhà thơ Trần Đức Thạch đã tham dự với vai trò đội trưởng trinh sát Quân đội Nhân dân. Bài này là 1 trong những tác phẩm mà tòa án Hà Nội, trong phiên xử ngày 6/10/2009, nêu lên như là một chứng cứ để buộc tội ông vào điều 88 bộ luật hình sự tức là “Tội Tuyên Truyền Chống Chế Độ”.

    Xem tại đây :

    NHÀ THƠ TRẦN ĐỨC THẠCH, TÁC GIẢ “HỐ CHÔN NGƯỜI ÁM ẢNH”
    http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2012/02/08/nha-th%C6%A1-tr%E1%BA%A7n-d%E1%BB%A9c-th%E1%BA%A1ch-tac-gi%E1%BA%A3-h%E1%BB%91-chon-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-am-%E1%BA%A3nh-rfa/

  14. Pingback: HỒI KÝ “TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CHIẾN TRANH” – PHẦN III: MỘT CUỘC HÀNH QUYẾT (Nguyễn Anh Dũng) | Ngoclinhvugia's Blog

  15. Nói thẳng ra là người CS.thường vơ vào mình tất cả,
    nào là văn minh,nào là đạo đức v.v.nhưng thực ra họ
    không hề có nên họ chỉ nói láo để tuyên truyền !
    “Ta có thể nói với quân thù những lời bình tĩnh :
    ‘những cái gì tốt đẹp của mày thuộc về tao
    những cái gì xấu xa của tao thuộc về mày’…”
    (Việt Phương : Cửa Mở)
    Điều nữa là đối với họ thì những ai chống lại họ đều
    là tàn ác,vô nhân đạo cả.Còn họ thì có toàn quyền
    dùng bạo lực cách mạng,chứ không phải tội ác !
    Đó là lý do tại sao họ có nhiệm vụ quốc tế (dù thực
    chất là xuất khẩu cách mạng) còn các nước tư bản
    thì chỉ có gây chiến hay đánh thuê v.v.
    CS.chỉ sống được nhờ 2 cột trụ : tuyên truyền láo
    và khủng bố dã man mà bất cứ ai theo CS.cũng phải
    chứng tỏ sự trung thành của mình bằng hành động
    tiêu diệt hết những người nào chống lại CS.

  16. Tôi muốn nhân dịp này để đưa lên đây câu chuyện cảm động cuả một người lính Mỹ gốc Việt. Tôi không muốn bình luận gì ở đây vì e có người bảo là tôi tuyên truyền. Vã chăng câu chuyện đã nói lên hết ý nghiã của nó. Nhưng hình ảnh người dân QT nằm chết trên Đại lộ Kinh hoàng năm 1972 càng bộc lộ đầy đủ hết câu ” Cứu cánh biện minh cho phương tiện” của người CS.
    Trong môt bài viết gần đây của một cựu HS trong nước kể lại cuộc gặp gở với môt Bác si nghỉ hưu , có lẽ là cưụ CBCS, trách móc cô tại sao lại dung những từ có tính cách nhạy cảm như Đại lộ kinh hoàng, Muà hè đỏ lữa…
    Điều này nói lên rằngthì là đến bây giờ người CS vẫn còn muốn bưng bít thong tin để lưà bịp dối trá.
    Thôi thì để các bạn tiếp tục đọc:

    Nữ Hải Quân Trung tá Mỹ gốc Việt gặp lại ân nhân sau 41 năm

    Thiếu úy Trần Khắc Báo và nữ Trung Tá Kimberly Mitchell hội ngộ sau 41 năm bặt vô âm tín. (ảnh TP chụp lại từ gia đình).

    Vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, một em bé 4 tháng tuổi nằm trên xác mẹ trên Đại Lộ Kinh Hoàng; em đang trườn người trên bụng mẹ tìm vú để bú nhưng mẹ đã chết từ bao giờ. Một người lính Quân Cụ chạy ngang, bồng em bé bỏ vào chiếc nón lá rồi chạy qua cầu Mỹ Chánh, trao lại cho một Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến đang hành quân.
    Bao năm trôi qua, em bé mồ côi mẹ nay trở thành Trung Tá trong Quân Lực Hoa Kỳ còn người Thiếu úy TQLC sang Hoa Kỳ theo diện HO nay đang định cư tại tiểu bang New Mexico. Hai người vừa gặp nhau sau 41 năm bặt vô âm tín. Ngày Thứ Ba 2 tháng 4, 2013 vừa qua, nhân dịp sang California dự lễ cưới, người Thiếu Úy TQLC này đã kể cho phóng viên Viễn Đông câu chuyện cảm động và ly kỳ ngay tại khách sạn nơi ông đang tạm cư ngụ. Người Thiếu Úy TQLC tên là Trần Khắc Báo.

    Vào thời điểm 1972 ông còn độc thân và phục vụ tại Đại Đội Vận Tải Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, được biệt phái sang Phòng 4 của Sư Đoàn làm sĩ quan phụ trách chuyển vận. Vào sáng 1 tháng 5 năm 1972, Thiếu Úy Báo được lệnh cấp trên, cùng một số đồng đội mở cuộc hành quân để giúp di chuyển Tiểu Đoàn 7 TQLC ra khỏi vùng vừa bị thất thủ thuộc tỉnh Quảng Trị vì một số đông quân nhân bị thất lạc không tìm thấy vị chỉ huy của họ. Ngoài ra, ông cũng xin lệnh giúp di tản các Quân, Dân, Cán, Chính khác đang tìm đường chạy về phía nam sông Mỹ Chánh là nơi quân đội VNCH còn đang trấn giữ; ông được cấp trên chấp thuận.Khi đơn vị ông đến cầu Mỹ Chánh (Quảng Trị)
    thì nơi đây là phòng tuyến cuối cùng của VNCH để ngăn chặn quân Cộng Sản Bắc Việt tràn xuống phía Nam. Ông đã chỉ huy 20 quân xa GMC thực hiện cấp tốc cuộc di tản suốt ngày. Đến khoảng 4 hay 5 giờ chiều ông Trần Khắc Báo nhìn thấy thấp thoáng bên kia cầu còn một người đang ôm chiếc nón lá thất thểu đi qua với dáng điệu hết sức mỏi mệt. Ông định chạy qua giúp người này nhưng vị Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 TQLC đang trách nhiệm trấn giữ tại đó la lớn:
    – Cây cầu tao đã gài mìn, có thể nổ và sẵn sàng phá hủy khi thấy chiến xa Việt Cộng xuất hiện, đừng chạy qua, mày sẽ bị bỏ lại bên đó không về lại được đâu nghe!
    Ông cố nài nỉ:
    – Đại Bàng chờ em một chút, cho em cứu người cuối cùng này.
    Và ông chạy đến đưa người này qua cầu. Thấy người này đi không nổi, thất tha thất thểu mà tay còn cố ôm vòng chiếc nón lá, Thiếu Úy Báo nói đùa:
    – Đi không nổi mà còn mang theo vàng bạc châu báu gì nữa đây cha nội?
    Người ôm vòng chiếc nón lá nói với Thiếu úy Trần Khắc Báo:
    – Em là lính Quân Cụ thuộc Tiểu Khu Quảng Trị, trên đường chạy về đây em thấy cảnh tượng hết sức thương tâm này, mẹ nó đã chết từ bao giờ không biết và nó đang trườn mình trên bụng mẹ nó tìm vú để bú, em cầm lòng không được nên bế nó bỏ vào chiếc nón lá mang đến đây trao cho Thiếu Úy, xin ông ráng cứu nó vì em kiệt sức rồi, không thể đi xa được nữa và cũng không có cách gì giúp em bé này.
    Nói xong, anh ta trao chiếc nón lá có em bé cho Thiếu úy Báo. Ngừng một chút, ông Báo nói với chúng tôi:
    – Mình là người lính VNCH, mình đã được huấn luyện và thuộc nằm lòng tinh thần ‘Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm’ nên lúc đó tôi nghĩ trách nhiệm của mình là lo cho dân nên tôi nhận đứa bé và nói với người lính Quân Cụ: “Thôi được rồi, để tôi lo cho nó, còn anh, anh cũng lo cho sức khỏe của anh, lên GMC đi để chúng tôi đưa anh về vùng an toàn.”
    Sau đó, người sĩ quan TQLC ôm em bé leo lên chiếc xe Jeep chạy về Phong Điền, cách đó khoảng 20 cây số.
    Trên đường đi, ông Báo cảm thấy rất bối rối vì em bé khóc không thành tiếng vì đói, khát mà ông thì còn là một thanh niên trẻ (lúc đó mới 24 tuổi) chưa có kinh nghiệm gì nên ông hỏi người tài xế, bây giờ phải làm sao?
    Người tài xế tên Tài trả lời:
    – Ông thầy cho nó bú đi! Ông thầy không có sữa thì lấy bi đông nước chấm đầu ngón tay vào nước để vào miệng nó cho nó bú.
    Ông Báo làm theo lời chỉ và em bé nín khóc rồi nằm im cho đến khi ông đưa em vào Phòng Xã Hội của Lữ Đoàn TQLC.
    Tại đây, gặp Thiếu tá Nhiều, Trưởng Phòng 4 TQLC, ông trao em bé cho Thiếu tá Nhiều và nói:
    – Thiếu tá, tôi có lượm một em bé ngoài mặt trận, xin giao cho Thiếu tá.
    Ông này nhìn ông Báo cười và nói:
    – Mày đi đánh giặc mà còn con rơi con rớt tùm lum!
    Ông Báo thanh minh:
    – Không! Tôi lượm nó ngoài mặt trận; nó đang nằm trên xác mẹ nó.
    Thiếu tá Nhiều bảo:
    – Thôi, đem em bé giao cho Phòng Xã Hội để họ làm thủ tục lo cho nó.
    Sau đó, ông Báo đưa em bé cho một nữ quân nhân phụ trách xã hội. Cô này nói với ông:
    – Thiếu úy giao thì Thiếu úy phải có trách nhiệm, vì em bé này ở ngoài mặt trận thì Thiếu úy phải cho nó cái tên và tên họ Thiếu úy nữa để sau này nó biết cội nguồn của nó mà tìm.
    Lúc đó, ông còn độc thân nhưng trong thâm tâm ông vốn nghĩ rằng sau này khi ông cưới vợ, nếu có con gái ông sẽ đặt tên là Bích, nếu con trai ông sẽ đặt tên là Bảo, nên sau khi nghe người nữ quân nhân nói, ông Báo đặt ngay cho em bé cái tên là Trần Thị Ngọc Bích. Sau đó ông trở về đơn vị và cuộc chiến ngày càng trở nên khốc liệt cho tới tháng 3/1975, đơn vị ông bị thất thủ cùng Lữ Đoàn 2 TQLC ở Huế và ông Báo bị Việt cộng bắt làm tù binh.
    Mãi đến năm 1981 ông được chúng thả về gia đình và bị quản chế. Tháng 9/1994 ông được sang định cư tại thành phố Albuqueque, tiểu bang New Mexico…
    Em bé Mồ Côi Gặp May Mắn

    Em bé Trần Thị Ngọc Bích được Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC đem đến Cô Nhi Viện Thánh Tâm Đà Nẵng giao cho các Dì Phước chăm sóc.
    Số hồ sơ của em là 899. Một hôm có ông Trung Sĩ Hoa Kỳ thuộc binh chủng Không Quân phục vụ tại phi trường Đà Nẵng tên là James Mitchell vô Cô Nhi Viện xin nhận một trong các em tại đây làm con nuôi. Bé Trần Thị Ngọc Bích may mắn lọt vào mắt xanh của ông James Mitchell và trở thành thành viên của gia đình này từ đó đến nay.
    Sau khi rời khỏi binh chủng Không Quân, ông James Mitchell trở về Hoa Kỳ vào năm 1972. Ông quyết định mang theo đứa con nuôi Trần Thị Ngọc Bích, lúc đó em mới được 6 tháng. Hai ông bà Mitchell đặt tên Mỹ cho em là Kimberly Mitchell. Em ở tại trang trại của gia đình tại Solon Springs, tiểu bang Wisconsin. Kimberly Mitchell lớn lên tại đây và được bố mẹ nuôi rất thương yêu, coi như con ruột. Em được đi học, tham gia thể thao và vào hội thanh niên. Lớn lên em vừa đi học vừa phụ giúp cha mẹ nuôi bò và làm phó mát. Cái tên Trần Thị Ngọc Bích đã bị quên lãng từ đó, và Kimberly Mitchell cho biết, mỗi khi nghe ai nói gì về Việt Nam, cô thường tự hỏi, Việt Nam là đâu nhỉ?
    Khi đã có trí khôn, Kimberly Mitchell nhận thấy mình không phải người Mỹ như bố mẹ, không phải con lai, không phải người Tàu. Cô không biết mình là người nước nào và cứ mang cái thắc mắc đó mãi mà không ai có thể trả lời cho cô.
    Một hôm, Kimberly Mitchell đánh bạo hỏi bố:
    – Con muốn biết con người gì, nguồn gốc con ở đâu? Tại sao con lại là con bố mẹ?
    Bố nuôi James giải thích cho cô:
    – Con là người Việt Nam, bố mẹ xin con từ trong viện mồ côi ở Đà Nẵng, Việt Nam. Nếu con muốn tìm nguồn cội của con, con có thể về Đà Nẵng, may ra tìm được tông tích của gia đình con.
    Ngay từ khi Kimberly còn học lớp ba, bố nuôi em đã muốn sau này cho Kimberly gia nhập Không Quân nhân khi cô được chọn tham dự hội thảo về nghệ thuật lãnh đạo dành cho những học sinh xuất sắc. Nhưng rồi định mệnh xui khiến, cô lại theo Hải Quân.
    Trong thời gian theo học, Kimberly Mitchell phải bỏ học một năm vì bố nuôi qua đời năm 1991 trong một tai nạn tại trang trại của gia đình. Sau đó cô trở lại trường và tiếp tục học.
    Năm 1996 cô tốt nghiệp Cơ Khí Hàng Hải và phục vụ trong Hải Quân Hoa Kỳ và hiện nay mang cấp bậc Trung Tá, Phó Giám Đốc Văn Phòng Trợ Giúp Quân Nhân và Thân Nhân tại Ngũ Giác Đài. Năm 2011, Kimberly Mitchell trở về cố hương trong vai một nữ Trung Tá Hải Quân, Quân Lực Hoa Kỳ, mong gặp lại người thân.
    Đến Viện Nuôi Trẻ Mồ Côi Thánh Tâm ở Đà Nẵng, cô may mắn gặp được Sơ Mary, người tiếp nhận cô năm 1972 từ một nữ quân nhân Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC.
    Giây phút thật cảm động, nhưng Kimberly chỉ được Sơ Mary cho biết: “Lúc người ta mang con tới đây, con mới có 4 tháng và họ đặt tên con là Trần Thị Ngọc Bích. Họ nói mẹ con đã chết trên Đại Lộ Kinh Hoàng, con được một người lính VNCH cứu đem đến đây giao cho Cô Nhi Viện rồi đi mất, vì lúc đó chiến tranh tàn khốc lắm.”
    Kimberly không biết gì hơn và cô quay trở lại Mỹ. Sau khi đã biết mình là người Việt Nam, thỉnh thoảng cô viết trên website câu chuyện của mình.
    Cuộc hội ngộ sau 41 năm với chiếc nón lá mà 41 năm trước, Trần Thị Ngọc Bích đã được cứu sống bởi các chiến sĩ VNCH. Trong hình, gia đình ông Trần Ngọc Báo và nữ Trung tá Kimberly Mitchell (quàng khăn hình Quốc kỳ VNCH )- ảnh TP/VĐ chụp lại.
    Ông Trần Khắc Báo đưa cho chúng tôi xem một số hình ảnh, một số báo tiếng Việt và mấy tờ báo tiếng Anh đăng hình cuộc gặp gỡ giữa gia đình ông và cô Trần Thị Ngọc Bích, và nói:
    – Sau khi ra tù Việt Cộng, tôi cũng cố tìm hiểu xem em bé Trần Thị Ngọc Bích nay ra sao, kể cả người lính Quân Cụ năm xưa, nhưng tất cả đều bặt vô âm tín.
    Một hôm tình cờ tôi đọc được một bài viết của tác giả Trúc Giang trên tờ Việt Báo Hải Ngoại số 66 phát hành tại New Jersey, tác giả kể lại câu chuyện đi Mỹ của một em bé trong cô nhi viện Đà Nẵng mang tên Trần Thị Ngọc Bích.
    Đọc xong tôi rất xúc động pha lẫn vui mừng, vì có thể 80, 90% cô Ngọc Bích đó là do mình cứu và đặt tên cho cô.
    Sau đó, ông nhờ người bạn tên là Đào Thị Lệ làm việc trong New York Life, có chồng người Mỹ và có em cũng ở trong Hải Quân Hoa Kỳ, liên lạc tìm kiếm Mitchell.
    Và chính cô Đào Thị Lệ là người đầu tiên trực tiếp nói chuyện với Trần Thị Ngọc Bích đang làm việc tại Ngũ Giác Đài.
    Theo ông nghĩ, có thể cô Mitchell bán tín bán nghi, không biết chuyện này có đúng không hay là chuyện “thấy sang bắt quàng làm họ” như ông cha mình thường nói. Nhưng sau khi nói chuyện với ông Trần Khắc Báo, Mitchell quyết định tổ chức một cuộc hội ngộ trước các cơ quan truyền thông.
    Cô xin phép đơn vị và mời được 7 đài truyền hình cùng một số phóng viên báo chí từ Washington, D.C cũng như nhiều nơi về tham dự.
    Cuộc hội ngộ, theo ông Báo cho biết, hoàn toàn do cô Kimberly Mitchell quyết định, địa điểm là trụ sở Hội Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New Mexico vào Thứ Sáu, ngày 29.8. 2012.
    Cô đến phi trường vào tối Thứ Năm 28.8, gia đình ông Báo ngỏ ý ra phi trường đón nhưng cô cho cô Đào thị Lệ biết là cô không muốn gia đình đón ở phi trường cũng như đưa vào khách sạn. Cô muốn dành giây phút thật cảm động và ý nghĩa này trước mặt mọi người, đặc biệt là trước mặt các cơ quan truyền thông, và cô muốn ông Báo mặc bộ quân phục TQLC như khi ông tiếp nhận cô đưa đến Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC cách nay 41 năm.
    Giây phút đầy xúc động
    Gia đình ông Trần Khắc Báo gồm vợ và con gái cùng có mặt.
    Khi ông Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia hỏi cô Kimberly Mitchell:
    – Cô đến đây tìm ai?
    Cô trả lời:
    – Tôi muốn tìm ông Trần Khắc Báo.”
    Vị Chủ Tịch quay sang ông Báo đang mặc quân phục và giới thiệu:
    – Đây là ông Trần Khắc Báo.
    Lập tức, Kimberly Mitchell Trần Thị Ngọc Bích tiến lại ôm lấy ông Báo và cả hai cùng khóc nức nở.
    Giây phút xúc động qua đi, cô Kimberly hỏi ông Trần Ngọc Báo:
    – Ông là người đã cứu mạng tôi, tôi mới có ngày hôm nay; tôi xin cám ơn ông, và bây giờ ông muốn gì ở tôi?
    Ông Trần Khắc Báo nói:
    – Thực sự bây giờ tôi chỉ muốn cô nói với tôi một lời bằng tiếng Việt, cô hãy kêu tôi là “Tía”. Vì tất cả các con tôi đều gọi tôi bằng Tía, tôi xem cô cũng như con tôi, tôi chỉ mong điều đó.
    Và ông mãn nguyện ngay, khi Kimberly Mitchell gọi “Tía”.
    Ông nói với chúng tôi:
    – Bấy giờ tôi thực sự mãn nguyện.
    Trả lời các câu hỏi của chúng tôi, ông Trần Khắc Báo cho biết, cô Kimberly chưa lập gia đình và cô có hứa sẽ thường xuyên liên lạc với gia đình ông. Ông có nhắc cô Kimberly điều này, rằng cô không phải là đứa trẻ bị bỏ rơi. Cô đã được những người lính VNCH có tinh thần trách nhiệm cứu sống trên bụng mẹ cô đã chết, và chính ông đã đặt tên cho cô là Trần Thị Ngọc Bích. Ông cũng mong rằng sau này, cô có thể trở lại Quảng Trị, may ra có thể tìm ra tung tích cha cô hoặc người thân của mình.
    Ông Trần Khắc Báo cũng cho biết, ông mất liên lạc với người lính Quân Cụ từ lúc hai người giao nhận đứa bé đến nay.
    Trong cuộc hội ngộ, trả lời câu hỏi của các phóng viên Hoa Kỳ, nữ Trung Tá Kimberly Mitchell cho biết cô có hai cái may:
    – Cái may thứ nhất là cô được tìm thấy và mang tới trại mồ côi .
    – Cái may thứ hai là được ông bà James Mitchell bước vào trại mồ côi và nói với các Sơ rằng, ông muốn nhận em bé này làm con nuôi.
    Câu chuyện sau 41 năm kết thúc tốt đẹp, cô Trần Thị Ngọc Bích đúng là viên ngọc quý trên Đại Lộ Kinh Hoàng như ý nguyện của người đã cứu mạng em, vì chính cô đã làm vẻ vang cho dân tộc Việt khi cố gắng học hành để trở nên người lãnh đạo xuất sắc trong Quân Lực Hoa Kỳ, một quân lực hùng mạnh vào bậc nhất thế giới. Người quân nhân binh chủng Quân Cụ và người sĩ quan TQLC Trần Khắc Báo đã thể hiện tinh thần của một quân nhân Quân Lực VNCH , luôn đặt Tổ Quốc – Danh Dự và Trách Nhiệm trên hết.
    Thanh Phong

  17. Mình xin chia sẻ những hiểu biết của mình về đa nguyên, đa đảng cho các độc giả. Đa nguyên là một học thuyết chính trị được C.Von đề xướng vào thế kỷ XIII. Học thuyết đa nguyên cho rằng xã hội được cấu thành bởi nhiều nhóm người, phân biệt bởi màu da, dân tộc, chính kiến, nguồn gốc… Trong xã hội đa nguyên mọi người “tự do, dân chủ không giới hạn”. Đây là một luận điểm phy lý vì sự tự do của người này là giới hạn tự do của người khác. Đây là một học thuyết được các nước phương Tây sử dụng như là một công cụ để thiết lập thể chê ở những nước mà họ muốn biến thành sân sau hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào họ. Tiêu biểu như Irac, Apghanistan, Ai cập. Ở Irac có vũ khí hủy diệt hay không? Xin thưa là không. Mỹ tấn công Irac mà không được hội đồng bảo an liên hợp quốc chấp nhận. Mỹ tấn công y rắc chỉ với lý do dầu mỏ. Tình hình ở Apghnistan, Ai Cập thì sao. Chưa bao giờ tiếng súng im hơi ở những nước mà mới được Mỹ biến thành “đa nguyên, đa đảng”

    • Nói như bác là có tư tưởng phục Mỹ rồi sợ Mỹ như nhà
      nước ta tuyên truyền để dân từ bỏ tư tưởng đó đi nhưng
      bác lại tuyên truyền ở chiều ngược lại là cái gì cũng đổ tội
      cho đế quốc Mỹ cả ! Hoá ra Mỹ xuất qủy nhập thần nhỉ ?
      Không ai phủ nhận tội ác của Mỹ nhưng việc nào ra việc
      đó,chứ không nên “vơ đũa cả nắm” để hù doạ người dân
      rằng thì là mà…dân chủ là dân chủ kiểu Mỹ thì xấu,còn .
      dộc tài CS.thì tốt !!!

    • “Đây là một luận điểm phy lý vì sự tự do của người này là giới hạn tự do của người khác.”
      Chịu câu này của bác.
      Bác thấy đấy: Chỉ sự tự do của Đảng (Đảng muốn làm gì thì làm, muốn bắt quân đội trung thành với Đảng là phải được, muốn qui định dất đai là của Đảng là phải được, Đảng muốn cai trị muôn đời là phải được…)
      Thế nên, nó dẫn đến sự mất tự do của ai thì bác chắc đoán ra rồi.

Đã đóng bình luận.