Cảm nghĩ khi đọc bài “Truy bức đến ba đời” của Huỳnh Ngọc Chênh

Cảm nghĩ khi đọc bài “Truy bức đến ba đời” của Huỳnh Ngọc Chênh

.

 Không hiểu sao, sau khi đọc bài này thì tự nhiên tôi lại nhớ về ông bố vợ người Czech của mình. Tuy Cụ đã qua đời vào năm 2009 nhưng thường xuyên tôi nhớ đến Cụ và nhớ đến “đạo làm người” của Cụ.

Khi còn làm việc, là một bác sĩ giỏi, ngoài chức giám đốc một bệnh viện lớn của tỉnh thì Cụ còn là bí thư thành ủy đảng cộng sản Tiệp Khắc mà sau này, khi thay đổi thể chế đã được tách đôi thành Czech và Slovakia vào 1.1.1993. Gọi là bí thư thành ủy cho có vẻ to nhưng đó chỉ là một thành phố thuộc tỉnh và chịu sự lãnh đạo của tỉnh ủy. Khi mới biết Cụ vào những năm 1981-1982 thì tôi đã được nghe nhiều người trong thành phố ca ngợi tính liêm khiết, hết lòng vì bệnh nhân của Cụ. Với những ai có bệnh nặng lại kèm theo bệnh tiểu đường thì Cụ quan tâm đặc biệt và đồng thời dặn dò các bác sĩ phụ trách lưu tâm đến họ. Cụ thường gặp riêng những bệnh nhân này trước khi họ ra viện để nhắc nhở họ những gì cần tránh trong sinh hoạt ngày thường cũng như chế độ ăn uống cần phải được đảm bảo. Sau này, khi đã trở thành con rể của Cụ thì tôi mới nhận thấy rằng những gì mà người dân ca ngợi Cụ là hoàn toàn đúng. Hàng năm, cứ đến đầu tháng 12 thì bệnh viện được tỉnh phân bổ một khoản tiền thưởng trích từ ngân sách của tỉnh. Không như các nơi khác, tỉ lệ tiền thưởng thường được chia theo mức lương, cao nhất là giám đốc và thấp nhất là những nhân viên quét dọn. Từ khi Cụ nhận chức giám đốc, tức là từ năm 1969 thì Cụ ra qui định là số tiền thưởng đó sẽ chia đều cho tất cả các nhân viên trong bệnh viện mà không có bất kỳ chênh lệch nào. Lúc đầu, do quen mức thưởng cũ nên các bác sĩ, nhất là các trưởng khoa phản đối kịch liệt vì họ cho rằng mình phải được mức thưởng cao hơn nhưng ngược lại, các y tá, hộ lý và nhân viên dịch vụ thì ủng hộ quyết định đó. Để xử lý những tranh luận nổ ra trong bệnh viện thì Cụ tổ chức một cuộc họp và giải thích rằng tiền lương chính là sự đánh giá khả năng và mức độ phục vụ của mỗi người còn tiền thưởng là cho sự đóng góp chung của tất cả mọi người. Không có hộ lý, y tá, nhân viên quét dọn  thì các bác sĩ cũng chỉ có thể làm một việc đơn giản nhất là khám bệnh, viết đơn thuốc. Dần dần mọi người cũng quen với cách làm của Cụ và từ đó trở đi, khi Cụ về hưu thì không còn ai phản đối nữa. Hàng năm thì bệnh viện được cấp một số phiếu nghỉ an dưỡng do Tổng Công Đoàn Tiệp Khắc phân bổ. Bao giờ Cụ cũng gọi thư ký Công Đoàn lên để cùng bàn bạc và lựa chọn những người thật sự cần thiết. Theo như tôi biết thì suốt cả thời gian từ lúc giữ chức giám đốc đến lúc về hưu vào năm 1998 thì chưa một lần Cụ tự phân cho mình một phiếu nghỉ an dưỡng nào.

Vì nhu cầu của bệnh viện nên thường xuyên phải tiếp nhận nhân viên mới. Y tá, nhân viên dịch vụ thì do phòng quản lý nhân sự đảm nhiệm theo chức năng còn bác sĩ thì do Cụ cùng bác sĩ các trưởng khoa tiếp nhận. Khi Tiệp Khắc còn là nước XHCN thì cũng chẳng khác gì Việt Nam, cũng COCC và giới quan chức nhà nước cũng cố gắng tìm cách “nhét” con cháu mình vào những nơi “ăn sung, mặc sướng” và nhàn hạ. Không ít lần Cụ đã nhận được những lá thư giới thiệu cho một ai đó nhưng vấn đề đầu tiên mà cụ quan tâm là trình độ chuyên môn và tư cách của họ chứ không ưu tiên cho thành phần “cành vàng, lá ngọc” mà dốt nát. Bệnh viện của Cụ đã được đăng lên báo không ít lần về chất lượng phục vụ và đặc biệt là bênhh viện duy nhất có những trưởng khoa không phải là đảng viên đảng cộng sản. Cụ thường nói với mọi người: Đảng phải vì quyền lợi của người dân và với bác sĩ thì chuyên môn và sự tận tâm với nghề nghiệp của mình là tiêu chuẩn duy nhất. Tôi nhớ mãi hai từ DUY NHẤT của Cụ. Các bác sĩ mới rất được Cụ quan tâm và chỉ dẫn, giúp đỡ khi họ có những sai sót. Đồng thời Cụ luôn cố gắng để không có khoảng cách giữa những bác sĩ đã làm việc lâu năm với những bác sĩ mới vào nghề.

Có một việc mà sau này, khi đã là rể của gia đình thì tôi được nghe mọi người kể lại. Trong một lần khám bệnh thì cụ được nghe một bệnh nhân than phiền là  2 cháu trai của họ, tuy học giỏi và đủ điểm vào đại học  y khoa và đại học kiến trúc  nhưng đã bị từ chối chỉ vì lý do là bố mẹ của hai cậu bé đó chạy qua Tây Đức sau vụ 1968 (1)  . Mặc dù không hề có quan hệ họ hàng nhưng Cụ đã dành thời gian đến gia đình đó và sau khi thấy đó là sự thật thì Cụ đã xin nghỉ phép để đến gặp ban giám hiệu của hai trường nhằm thuyết phục họ. Khi thấy không có kết quả thì Cụ đã lên thẳng Praha yêu cầu gặp trực tiếp ông Milan Vondruška,  Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và cuối cùng Cụ đã thuyết phục được ông Bộ trưởng để cả hai đều được nhập học. Sau này, cả hai đã trở thành bác sĩ, kiến trúc sư có tầm cỡ tại Czech và trên thế giới. Cũng nhờ vụ này mà ông Bộ trưởng và Cụ trở thành bạn thân của nhau và tôi đã có nhiều dịp ngồi tào lao với vợ chồng ông bà ấy. Hồi đó, chuyện chạy trốn khỏi Tiệp Khắc là một tội rất nặng và rất nhiều gia đình tan nát cả cuộc đời nếu một ai đó trong gia đình trốn ra nước ngoài. Lý do của Cụ rất đơn giản và cũng rất tình người: “Những đứa trẻ hoàn toàn vô tội và nhà nước không thể dùng những đứa trẻ để trả thù cho bố mẹ chúng nó. Làm như vậy là vùi dập tương lai của đất nước”.

Con trai cả của Cụ hồi đó là trưởng phân nhóm của báo “Quyền lợi Đỏ” (2)  tại Tây Âu với trụ sở ở Paris. Ai cũng biết rằng tất cả những ai làm việc cho nhà nước mà được cử đi nước ngoài đều phải ký một hợp đồng chấp nhận hợp tác với STB (3) – là cơ quan tình báo của Bộ Công An Tiệp Khắc. Cậu ấy cũng không tránh được số phận đó. Tôi có nghe kể lại là trước ngày lên đường nhận nhiệm vụ thì cậu ấy có xin phép được gặp riêng Cụ một buổi. Vì là người có kinh nghiệm nên khi gặp nhau, ngoài những tâm sự về cuộc sống, mặc dù con trai không thể thổ lộ với Cụ việc phải ký bản hợp đồng “ma quỷ” này nhưng vì có kinh nghiệm sống nên Cụ chỉ dặn con trai mỗi một câu: “Hãy sống và làm việc bằng lương tâm của mình”. Hè 1989, trước khi qua đời do bệnh ung thư hiểm nghèo, khi nằm trên giường bệnh thì người con trai cả đã nắm tay Cụ và nói câu cuối cùng: “Cha, con đã sống đúng  như con mong muốn và đúng như lời Cha dặn – Tati, žil jsem přesně tak, jak jsem chtěl a jak jsi přal” rồi vĩnh viễn ra đi. Cụ đã khóc và đó cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy hai dòng nước mắt của Cụ. Vừa vuốt mắt cho con  Cụ vừa mếu máo nói “Cha biết, cha biết – Vím to, vím to”.

19.11.2009, Cụ qua đời khi vừa qua tuổi 84. Chúng tôi chỉ muốn làm một tang lễ trong khuôn khổ gia đình nhưng cuối cùng phòng lễ tang không đủ chỗ cho mọi người đến dự. Tang lễ ở Châu Âu thường chỉ khoảng vài ba chục người nhưng đám tang của Cụ có gần nghìn người đến chia tay. Không những bạn bè, người quen mà rất nhiều bệnh nhân đã được Cụ cứu chữa và nhiều đoàn thể, đảng phái đã cử người đến viếng. Thị trưởng thành phố là người đứng ra đọc điếu tang và tới giờ tôi chỉ còn nhớ câu cuối cùng của ông ấy: “Doctor Courton luôn là một CON NGƯỜI –  Doktor Courton byl vždy ČLOVĚKEM”.

10.4.2013

Phú Hòa

Czech Republic

===========

(1): Năm 1968, sau khi quân đội Liên Xô cùng quân đội khối Varsava đổ bộ vào Tiệp Khắc để buộc chính quyền Tiệp Khắc phải đi theo đường lối của mình thì rất nhiều người dân Tiệp Khắc, do phản đối hành động đó đã chạy ra nước ngoài, phần lớn là sang Áo, Tấy Đức rồi đến các nước khác. Người dân Tiệp Khắc cho rằng, nếu không có cuộc đổ bộ này thì chính phủ Tiệp Khắc đã có thể đưa đất nước đi theo hướng không phụ thuộc vào Liên Xô và nhờ đó nền kinh tế của Tiệp Khắc sẽ trở lại thời kỳ hoàng kim như sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, khi nền cơ khí của Tiệp Khắc nổi tiếng trên toàn Châu Âu. Khi Tiệp Khắc còn là nước cộng sản, nhất là sau vụ 1968 thì công dân Tiệp Khắc chỉ có thể đi du lịch trong các nước của phe XHCN, cùng lắm là qua Nam Tư chứ gần như không được phép đi các nước tư bản. Nếu qua Nam Tư phải xin phép đặc biệt và không bao giờ được phép đi cả gia đình để tránh trường hợp bỏ trốn. Nếu gia đình không con thì bao giờ cũng chỉ được phép đi một người.  Nếu gia đình có con thì bố mẹ đi, con cái ở lại. Tuy vậy, nhiều cặp vợ chồng đã gửi con lại cho ông bà trông rồi trốn ra nước ngoài qua con đường Nam Tư. Tất nhiên số phận của những người ở lại rất cực khổ và luôn nằm trong sự kiểm soát của công an Tiệp Khắc. Con cái của họ phần lớn không được học đại học và không được làm việc ở những vị trí phù hợp với khả năng của mình. Sau năm 1968 rất nhiều giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, do phản đối hành động “đổ bộ” của Liên Xô đã bị đuổi khỏi vị trí làm việc của mình và không ít người trong số này chỉ có thể tìm được việc làm duy nhất là thợ đốt lò trong các nhà máy. Václav Havel, cố tổng thống Tiệp Khắc đầu tiên sau năm 1990, sau khi ra tù là một trong những người như vậy.

(2): Báo “Quyền lợi đỏ – Rudé Právo” là cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Tiệp Khắc, giống như báo “Nhân Dân” ở Việt Nam. Sau năm 1990, khi chế độ cộng sản bị lật đổ thì báo này đổi tên thành “Quyền lợi – Právo” nhưng vẫn thiên về cánh tả.

(3): STB là cơ quan an ninh mật vụ của Bộ công an Tiệp Khắc. Hồi đó, tất cả công dân Tiệp Khắc được cử đi làm việc ở nước ngoài đều phải ký một hợp đồng tình nguyện hợp tác với họ. Không những thế, nhiều công dân Tiệp Khắc, tuy chỉ sống ở trong nước nhưng hoặc là tự nguyện, hoặc bị ép buộc phải cộng tác và thường xuyên cung cấp cho STB những thông tin về những ai có biểu hiện chống đảng. Không ít trường hợp, chỉ vì lấy thành tích hoặc vì hằn thù cá nhân mà có những tình nguyện viên sẵn sàng vu oan cho người khác, tạo ra bằng chứng giả, … và tất nhiên nhiều người đã bị tan nát cả cuộc đời vì những điều vu oan, giá họa đó. Sau năm 1990, khi hồ sơ mật của STB được công khai thì nhiều người giật mình khi biết bạn bè mình, đồng nghiệp mình, hàng xóm mình làm việc cho STB và cung cấp những tài liệu, thông tin sai trái về họ

Tác giả gửi cho NTT blog

5 thoughts on “Cảm nghĩ khi đọc bài “Truy bức đến ba đời” của Huỳnh Ngọc Chênh

  1. Truy bức hai đời đã là phong kiến rồi. Truy ba đời thì độc ác, dã man thời Nô lệ, Trung cổ

  2. Bài này gợi lại “Chủ nghĩa lý lịch” ở Việt Nam.

    Chủ nghĩa lý lịch và những báo cáo “mật” sai sự thật theo cảm tính cá nhân, do thù hằn cá nhân, do đố kị, do bệnh thành tích (hoàn thành chỉ tiêu, số lượng người và tin trong báo cáo…)…ở Việt Nam từ sau 2/9/1945 đã làm nhiều gia đình tan nát, nhiều tài năng thui chột, nhiều cái chết oan, nhiều người tù oan…nạn nhân có thể biết, cũng nhiều nạn nhân không hiểu được tại sao?…

  3. Nếu như công lý, nhân quyền không tồn tại ở Việt Nam thì có nói gì cũng vô ích thôi.

    Thông báo cho mọi người được biết là chị Bùi Thị Minh Hằng vừa gửi đơn tố cáo đến Liên Hiệp Quốc, Asean cùng dư luận thế giới nói rõ thực trạng luật pháp và quyền con người ở Việt Nam bị chà đạp ra sao.

    Mọi người có thể xem chi tiết đơn tố cáo của chị Bùi Hằng tại đây:

    http://danoanbuihang.blogspot.com/2013/04/on-gui-cac-to-chuc-quoc-te-va-thong-bao.html

  4. Truy bức đến 3 đòi không phải là chuyện mới lạ trong chế độ CSVN. Sau ngày miền Nam lọt vào tay CS. Những người lính VNCH như chung tôi bị lùa vào trong các trại tập trung, với mỹ danh là “Cải Tạo” thực ra đây là trại hủy diệt: Ăn uống thiếu thốn, lao động khổ sai bệnh tật không có thuốc uống…Viết lý lịch phải khai đến 3 đời (từ ông cố, ông nội đến cha mẹ)…Sự tàn ác của CSVN không thể nào kể hết được. Mói đây tôi đọc được bài viết nóii đến trường hợp một Thượng sĩ Quân Cảnh VNCH đã đối xử tàn bạo với một tù binh CS, khi ông nầy trốn trại bị bắt lại,, tờ báo nầy đã đặt tên ông ta là:’Ác Qủy”. Tôi thấy không thấm vào đâu với sự hành hạ của Cán bộ cai tù CS đối xử với tù nhân như chúng tôi khi trốn trại bị bắt lại. Đơn cử một trường hợp: tù nhân: Nguyễn Công Ánh ở Trại giam Xuyên Mộc, trốn trại bị bắt lại, cán bộ coi tù đã cắt gân tay, gân chân treo anh ta lên và dùng lưỡi lê đâm từ từ cho đến khi chết…

Đã đóng bình luận.