THAM DỰ LỜI MỜI BÌNH THƠ CỦA “TRIẾT GIA“ NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

THAM DỰ LỜI MỜI BÌNH THƠ CỦA “TRIẾT GIA“ NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

VÂN THUYẾT

.

Chào “ Triết gia “ Nguyễn Hoàng Đức ! Qua bài “ VỚI CÁC BẠN YÊU THƠ “ đăng trên Blog của nhà văn Nguyễn Tường Thụy thể hiện tâm trí của ngài hừng hực như một “võ sĩ giác đấu “ – tôi đành tạm buông bút vẽ dành chút thời gian có ít lời tâm giao cùng ngài .

Bài thơ “ HOÀI NIỆM THU “của ngài khá hay thôi – có cảm xúc – một tâm sự của tâm hồn – trí tuệ lớn đầy tài năng – đau đáu những suy tư về cuộc đời qua mùa thu – bài thơ có ý tưởng đẹp – có tâm trạng – có sự dong chơi của chữ – ngôn từ nhịp điệu thơ tự nhiên – dễ gần gũi – sử dụng hỗn hợp nhịp thơ thất ngôn bát cú xen lẫn ngũ ngôn bát cú – pha trộn chất dân ca và một chút phong cách thơ tự do – mỗi câu  mỗi nhịp là những nhát chém khá mạnh – bạo ngôn – mô tả cụ thể rõ ràng – mạch lạc ( làm giảm đi sự ảo mộng diễm tình của hồn thơ ) – biểu hiện kinh nghiệm hiểu biết sành điệu về kỹ thuật cấu trúc nhịp điệu thơ – nhưng không có sự bất ngờ xuất thần của cảm xúc trực giác phiêu linh – thơ mang hơi thở của giọng nói ở miệng nhiều hơn của nhịp tim sâu thẳm – nghệ thuật tu từ quá đơn giản thô mộc – dùng quá nhiều trạng từ quen thuộc – pha trộn liêm luật cổ đè nặng lên hồn thơ làm cho chất thơ bị gò ép không bay bổng – hình ảnh trong thơ thiếu sự hồn nhiên ngẫu nhiên vô tình – làm giảm hiệu ứng gợi hình ảnh không gian – thiếu những chiêm nghiệm sâu xa của cuộc đời thực – của những thân phận kiếp người đơn lẻ – không thấy những vì sao lấp lành của ngôn từ cao khiết quý phái mỹ lệ – chưa có ánh sáng của những màu sắc lạ – siêu hình – phi lý – không gợi nên được sự day dứt ám ảnh – huyền dụ – ẩn bí – diễm ảo – mơ hồ – linh thiêng – siêu việt – minh triết – du dương tuyệt mỹ của thơ – chưa hé lộ một thi pháp riêng của thi nhân – của bậc hiền nhân đại trí – điều quan trọng nhất là chưa thấy được cái hương vị dịu dàng man mát buồn gợi kỷ niệm gợi tình của mùa thu – không gây được xúc động về nỗi đau buồn mặc dù dùng rất nhiều từ đau .

Cái tế nhị lịch lãm siêu việt của chữ nghĩa là ta không dùng trực tiếp nhiều những từ nói về nỗi buồn – nỗi đau – nhưng vẫn gợi nên sự bất hạnh đau khổ “.

Với phong cách – chất thơ mang cảm xúc suy tư dân ca địa phương “châu Á” như vậy nó đạt ở tầm quốc gia chứ chưa thể đạt tới tầm vóc cảm xúc và suy tưởng triết lý của nhân loại – nó cũng có thể sẽ nhòa tan vào những giọng thơ phổ biến của một thời quá khứ và hiện tại của hầu hết các nhà thơ ở độ tuổi như chính tác giả .

Trí thức đọc sách của ngài khá lớn – hiểu biết vạn sự ở đời nhưng chưa hoan hỉ giác ngộ – chưa vượt khỏi vòng luyến ái mê chấp phát sinh – vẫn chìm đắm sân si trong cái “ trụy lạc “ của tranh dành cao thấp hơn thua – cái tự ngã vẫn che phủ cái vô ngã – tôi tin tưởng sâu sắc rằng những trở ngại đó chỉ như dòng suối nhỏ – ngài có thể bước qua dễ dàng để trở nên thiên tài thi ca của nhân loại – nhưng nó cũng có thể là đại dương bão tố – với con thuyền nhỏ còn chất chứa nhiều đinh kiến nhiều hoang tưởng – ngài sẽ chẳng bao giờ vượt qua tới bến bên kia của Chân Thiện Mỹ – tất cả phụ thuộc vào năng lượng tài năng – phụ thuộc vào khả năng giác ngộ chân lý nơi tâm hồn tư tưởng của ngài và một chút ân huệ mà Thượng Đế ban tặng ngài nhiều hay ít – dù sao tôi vẫn hy vọng ngài sẽ vượt qua để bay đến dự yến tiệc ở những lâu đài thi ca của nhân loại vào những năm cuối đời …

Tôi đã có nhiều dịp được NHĐ đọc thơ cho nghe – ngài là kẻ có tài năng có suy tư – có tư tưởng – với những tập thơ và trường ca đã có – NHĐ vẫn xứng danh là một nhà thơ thực sự vượt trên những nhà thơ Việt Nam đương thời cùng thế hệ.

NHĐ có khá nhiều bài phê bình phán xét trực diện vào những nhà thơ của Hội nhà văn Việt Nam – của nền thơ Việt Nam đã chạm đáy của sự tầm thường mà không hề có một bài viết nào – một bình luận nào của giới văn chương thi ca đáp lại NHĐ – một sự im lặng ù lì đáng buồn hổ thẹn – có phải họ làm ngơ coi như không có NHĐ ở trên cõi đời này !? – Hay họ bất tài bất lực không đủ cảm xúc trí lực cùng NHĐ bút chiến !? – Thật chua xót đắng cay cho giới thơ văn của Hội nhà văn Việt Nam .

Là một nhà điêu khắc – họa sĩ – tôi không muốn so tài với bất kỳ ai về thi ca – tôi cho rằng : – “ Dấn thân cả cuộc đời làm nghệ thuật nhưng vẫn có thể không đạt thành tựu là điều tự nhiên bình thường . Bậc đại trí cao siêu thấu hiểu đến đáy của cuộc đời – đến tột cùng của mọi kiếp người – luôn tự biết : “Thế sự thăng trầm – lời nói gió bay “ . Là nhà phê bình – có nên đục xoáy khoét sâu mãi bằng một luận điệu vào sự yếu kém hay lỗi lầm của những kẻ thấp hèn nhân danh ngộ nhận – những kẻ phàm tục dục lạc vô minh – những kẻ tham sân si xa lìa sám hối !? Nhà phê bình có thể sẽ trở thành kẻ giáo lý giáo điều – kẻ nhiều chữ nhưng ít nghĩa – kẻ cưỡng bách chiến bại . Tốt hơn nếu ta thiền định – từ- bi – hỉ – xả – thực hành đạo hạnh trong sạch – tự thanh lọc tâm – không ô nhiễm – tâm định tự do cao thượng – khơi dậy lòng trắc ẩn – truyền bá khai mở rộng thêm nhận thức tâm hồn – trí tuệ – tư tưởng đẹp của nhân loại một cách hồn nhiên vô tư không thiên chấp . Mỗi người là một tấm gương soi cho kẻ khác – không ai tự giác ngộ nếu chính ta chưa tự giác ngộ . Muốn cứu rỗi tâm hồn – muốn trí tuệ thăng hoa – muốn vinh hạnh tỏa sáng – tự mỗi ngưỡi sẽ thức tỉnh cơn mê hào nhoáng tầm thường – vương miện của trí tuệ sẽ đến với kẻ tu hành khổ hạnh trong ánh sáng của chân lý .

” Là tình cờ của tư duy hay là bổn phận của tư tưởng.

Là nghệ thuật hay không là nghệ thuật

Là hiện sinh hay không là hiện sinh

Là thanh lọc tâm hồn hay buông thả bản năng 

Là buông rơi cảm xúc hay lý trí kiềm chế

Là siêu việt hay không siêu việt 

Là bất tử hay không bất tử

Là vĩnh cửu hay không vĩnh cửu

Là lý tưởng hay không lý tưởng

Là dấn thân đam mê hay cuộc sống đời thường 

Là khát vọng siêu tự do hay chấp nhận truyền thống

Là khát vọng thiên tài hay lặng lẽ vô danh…”

Đó là quyền lựa chọn của mỗi thi nhân – mỗi nghệ sĩ  …

Nghệ thuật không phải như các môn phái võ lâm hay thể thao mà đem ra thách đấu tỉ thí – có lẽ trên thế gian này chỉ duy nhất có NHĐ là kẻ đem thi ca “ so găng “ . Người ta có thể im lặng với những lời xúc phạm tầm thường đố kỵ của bọn phàm phu hạ đẳng tiểu nhân tiểu trí – nhưng không thể im lặng mãi chấp nhận những lời phán xét sâu cay nghiệt ngã của kẻ có trí thức có tên tuổi . Tôi chỉ là kẻ ngoại đạo của thơ – nhưng trước những lời thách đấu thơ và bình thơ – là kẻ tôn thờ chữ nghĩa – tôn thờ thi ca tôi không thể im lặng mãi để cho “ lãnh chúa phê bình NHĐ “ độc tôn tung hoành phê bình phán xét thơ – hạ bệ thơ – nhạo báng hủy bỏ thơ – kẻ luôn sử dụng quá nhiều danh ngôn – châm ngôn – ngụ ngôn – đại ngôn – lộng ngôn – thường ngôn – ca dao tục ngữ – hò vè – …làm cho những người yếu bóng vía chữ nghĩa hoang mang lo sợ không dám lên tiếng bút chiến tranh luận – tôi cho rằng : “ kẻ dùng quá nhiều tư duy suy nghĩ của người khác làm ví dụ để chứng minh luận điểm của mình rất dễ bị sa lầy vào sự rối loạn của tư tưởng – làm mất đi óc sáng tạo của cá nhân kẻ đó ) .

Là kẻ say mê triết học – NHĐ luôn bị khái niệm NGUYÊN LÝ dẫn dắt cai trị – nó ảnh hưởng rất sâu đậm vào ngôn ngữ thơ của NHĐ – chính nó đã cản trở NHĐ trở thành thi sĩ – thi nhân .

Đằng sau những lời mời đọ găng lịch thiệp ẩn dấu sự tự tin ngạo nghễ chiến thắng của ngài – có lẽ tôi cũng nên kiệm lời khi bình thơ của ngài – tôi cho rằng :

Thơ luôn chiến bại nhiều hơn là chiến thắng “ .

“ Không có bất kỳ một nguyên lý nào có thể áp đặt cho thơ – nguyên lý phá hủy thơ chứ không thể làm nên thơ  “

 “ Thơ là nhịp điệu của chữ nghĩa – nhưng hồn thơ luôn vượt lên trên chữ nghĩa “-

 “ Từng chữ cái – từng từ – từng câu – có cuộc đời – có số phận – tất cả đều có linh hồn – chúng nằm ngoài ý muốn của ta – chúng có thể được thăng hoa sung sướng hạnh phúc – cũng có thể bất hạnh bị lưu đầy – chúng mượn danh ta mà hiện sinh tồn tại .” 

NHĐ có thiên tư tài năng về triết học – văn xuôi và phê bình văn học – nhưng với thơ – ngoài nỗ lực đam mê dâng hiến của bản thân – nó còn có một chút ân huệ của Thượng Đế – điều này tôi nghĩ NHĐ là kẻ chưa được ban ơn nhiều về thơ. Hy vọng ngài  không nổi kơn “ thịnh suy “.

Nhân đây tôi xin gửi bài thơ : “ ĐÊM THU TRẦM NGÂM “ tôi viết từ năm 1990 nay có dịp – mời những bạn đọc yêu thơ và “ Triết gia “ Nguyễn Hoàng Đức thưởng ngoạn ! ( Chân thành cảm ơn tất cả những bạn đọc tâm giao với bài thơ của tôi!) .VT

ĐÊM  THU TRẦM  NGÂM

Đêm thu trầm ngâm – ta không quên nhấm nháp một ly rượu

Ngọn lửa thèm muốn tự do – buông thả cùng nhịp bước phiêu du

Mặt trời đang lặn bên ô cửa sổ đã kết hôn – thao thức thở dài

Trên khắp thế gian – những cây đèn phải ra đi – vượt qua mưa gió

Những giọt sương đọng trên những cánh hoa – run rẩy sợ chia ly

Đôi mắt dõi theo khuôn mặt nhàu nát đi lang thang – tìm kiếm tinh thần

Lần đầu tiên gặp một nụ hôn – bị đánh mất bờ môi trinh trắng

Ta ước nguyện cho âm nhạc của mùa thu – phát sóng hoàng hôn

Ta tìm thấy bản sonate từ thời tiền sử – vẫn trầm ngâm bên vách đá

Nơi những ngôi sao sáng thuần phục – lặng rơi xuống trong đêm khuya

Khoảnh khắc ngắn ngủi – bay qua minh triết của cảm xúc bậc thầy

Tâm hồn nhạy cảm – ngắm nhìn kẻ dấn thân đam mê xô nhào tâm trạng

Hơi men của rượu rót hương thơm thi nhân – một mình một bóng phất phơ

Nằm trong vòng tay vĩnh cửu – ảo ảnh dụ dỗ thời gian đi biệt xứ

Một nửa nụ cười hoang dã – ôm chặt vết thương lòng bất trị

Nửa còn lại hoang mang – bơ vơ lạc lõng – tìm chốn nương thân

Con thuyền số phận rời xa bến đỗ – lênh đênh vượt sóng vỗ trầm luân

Vượt qua cửa linh hồn từ trên trời cao – một thế giới huy hoàng

Gọi gió mùa thu trở lại những ngọn đồi hôn mê – yên tĩnh bình an

Niềm hy vọng đánh thức cuộc đời – chờ đợi tương lai nằm trong quá khứ

Không có những thiếu nữ hồn nhiên – khiêu vũ trong vương quốc hoang vu
Những người yêu vẻ đẹp duy mỹ rất cô đơn – cho dù trái tim đập mãnh liệt

Không gian sầu tư vẫn tồn tại – có thể ngày mai bừng sáng

Thoát khỏi buồn bất hạnh – sưởi ấm con tim tha thứ bao dung

Những ngày trong quá khứ – những cơn lốc lưu hành mưa thiên thạch

Những ngọn gió buồn dạo chơi trên hè phố mông lung – nhiều lá vàng rơi

Bâng khuâng áng mây chiều – lưu lạc trên khuôn mặt trí tuệ sáng trong

Lòng trắc ẩn cất cánh bay xa – dập tắt nỗi buồn thiên niên kỷ

Một lần nữa may mắn – cõi thần tiên ban tặng kho báu kiệt tác của tâm hồn
Ánh sáng ngân nga ru tình bay xa – khởi đầu rên rỉ niềm hoan lạc

Chinh phục thế gian – màn đêm chạy chốn bầu trời đen – bỏ rơi bóng tối

Lao xao quyến rũ – giai điệu màu xanh ngủ say trên cơn bão ưu sầu

Thanh kiếm thủy triều bị ánh trăng khước từ – leo lên đỉnh núi cao ngồi trầm tư

Ngọn lửa si tình thèm khát tự do – đi gom nhặt những nốt nhạc bị lãng quên

Đêm thu trầm ngâm – ta không quên nhấm nháp một ly rượu

Trên khắp thế gian – những cây đèn phải ra đi – vượt qua bão tố .

Vân Thuyết

Hà nội 1990

3 thoughts on “THAM DỰ LỜI MỜI BÌNH THƠ CỦA “TRIẾT GIA“ NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

  1. Cảm ơn Vân Thuyết Tiên sinh về bài viết quá hay, vừa giàu cảm xúc tinh tế của con tim, vừa đầy sức thuyết phục bởi lý lẽ của một tư duy nghệ thuật logic, và lại được tác giả có nhã ý mời thưởng ngoạn “khuyến mãi” bài thơ “ĐÊM THU TRẦM NGÂM” trên cả tuyệt vời !

    Rất tâm đắc và xin được chia sẻ cùng Tiên Sinh về ý kiến:

    …“kẻ dùng quá nhiều tư duy suy nghĩ của người khác làm ví dụ để chứng minh luận điểm của mình rất dễ bị sa lầy vào sự rối loạn của tư tưởng – làm mất đi óc sáng tạo của cá nhân kẻ đó ” …

    Những người như vậy, nếu không khéo, dễ ngộ nhận mà dễ dãi với mình, khắt khe với người – một trạng thái thường có ở người NGỘ CHỮ. Có phải không ạ ?

  2. Tôi nghĩ đơn giản Thơ khác văn xuôi là phải có vần, Một bài viêt chẳng thấy vần đâu tôi nghĩ đây là bài thơ dịch từ tiếng nước ngoài, cốt giữ ý thôi không thể tạo vần được.Hoặc một tập hợp các định luật, nhận định và tình cảm… Mong các ông trở về với dân làm gốc, cứ viết văn xuôi , lại chịu khó xuống dòng xong khẳng định là thơ, chịu không nổi !

  3. Người Việt mình, tự xa xưa ngôn ngữ vốn giàu nhạc tính qua âm sắc 5 dấu + không dấu.Cách diễn đạt có vần điệu,nên văn học cổ của ta đều là vận văn,
    Phan Trần, Trê Cóc,Bích Câu,Chinh Phụ,Cung oán,Kiều .v.v..hoặc biền văn
    thì cũng đối đãi nhịp điệu, như các Cáo,Hịch…”Bình Ngô đại cáo” chẳng hạn.Ấy là bản sắc ngôn ngữ chứ không hẳn chỉ khi làm thơ.Vè,ca dao…cũng có vần, nhưng vè đâu phải thơ,dù rằng người ta hay dùng một thể văn vần để
    trình bày ý thơ,rồi thành lệ mà nói thể thơ này ,thể thơ kia…
    Theo thiển ý,thơ chưa lìa hoàn toàn mộng,có lẽ thế mà hay nói thơ mộng.Mà
    cũng chưa hoàn toàn bước ra cõi thực.Tự tiềm thức âm u,nhú lên một mầm
    tưởng chưa trồi lộ hẳn trên mặt phẳng ý thức với ngữ nghĩa quy ước.Trong trạng thái này,mầm còn non tơ chưa rõ hình tích,và rất dễ lụi mất. Đó là ”tứ” thơ,vì từ miền vô thức nên mỗi khi trồi lên,chính là một sáng tạo.Thơ là sáng
    tạo,nên đâu đã quy vào ước mà phổ thông dễ hiểu.Nó cần được cảm chứ không phải hiểu qua lộ trình lý luận.Thưởng thức thơ,cũng như ăn giá chứ
    không phải ăn đậu.Dựa vào kinh nghiệm ăn đậu để nhận xét vị của giá là
    không thỏa đáng và sẽ võ đoán.Giải phẩu thơ e là một việc tỏ ra không ngộ
    thơ,như thể người thợ tháo ráp một cỗ máy để hiểu biết vậy.
    Thơ,là phẩm chứ không là lượng, chữ chỉ là vay mượn,như phương tiện hữu nghĩa mà truyền cho nhau cái ”tứ” sáng tạo cá nhân. Bởi,”nhập thế cục
    bất khả vô văn tự”, thế thôi.
    Vì chỉ là phương tiện,nên không bắt buộc phải là văn vần hay văn xuôi,mới tải
    được thơ.Thơ,với một số người,còn có thể truyền tin cho nhau bằng nhiều
    cách, không hẳn chỉ bằng con chữ, mà vẫn thu được cảm giác thơ.Chất thơ,
    có thể đựng trong cái bình thế nào tùy cá nhân và dân tộc.Cũng như chở thơ
    đi bằng gì xe , thuyền gì gì…

Đã đóng bình luận.