THẤY GÌ KHI Việt Nam tham gia ký vào CÔNG ƯỚC CHỐNG TRA TẤN CỦA LIÊN HỢP QUỐC?

.

Việt Nam đang từng bước muốn hội nhập với Quốc Tế và các Quốc gia Văn Minh tiến bộ

Điều này có thể thực hiện được và thực sự trở thành mong muốn thay đổi của những người lãnh đạo, nhằm đáp ứng những mong muốn thực thi QUYỀN CON NGƯỜI đối với xã hội Việt Nam hay không? Chúng ta hãy phổ biến rộng rãi thông tin này như một sự cập nhật cần thiết trong đời sống xã hội

Và tất cả mỗi người Dân chúng ta hãy cùng giám sát xem sau khi đặt bút ký vào công ước chung này (7-11-2013) Thì liệu rằng những vụ “Chết trong đồn công an” Hay những trường hợp bạo lực mà công an hay từ nhà cầm quyền gây ra với người Dân có được dần dần chấm dứt hay không các bạn nhé!

Hy vọng rằng trong một xã hội văn minh hơn. Trong tương lai người dân chúng ta không gặp lại những cảnh như thế này

.

Chết trong đồn công an

.

.

.

Clip cùm chân người Dân trong đồn công an Thụy Khê ngày 25-10-2013 sau đó đánh Truong Văn Dũng gãy 3 xương sườn số 7-8-9

Clip CSGT Bà Rịa dừng xe vô cớ để mật vụ côn đồ tấn công những người bất đồng chính kiến ngày 21-8-2013: https://www.youtube.com/watch?v=VTPy-0lWlPc (Nguồn facebooker Nguyễn Bắc Truyển)

Sau gần 40 năm, Liên hợp quốc ban hành Công ước chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc (tên đầy đủ là Công ước chống Tra tấn và Trừng phạt hoặc Đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác), ngày 7/11/2013, nước CHXHCN Việt Nam vừa ký tham gia công ước. Hiện nay, có 154 nước đã tham gia vào công ước này trên tổng số khoảng 192 nước, lãnh thổ là thành viên LHQ.

Với việc tham gia vào công ước Chống tra tấn tù nhân và giam giữ vô nhân đạo, Việt Nam phải chấp nhận cho đặc phái viên LHQ về giam giử vào thanh sát các nhà tù. Nhiệm vụ của các nhà hoạt động sẽ là chung tay phổ biến công ước này đến cho người dân.

Tạm thời xin mời đọc Công ước theo trang wikipedia, trước khi chúng ta có một bản dịch tốt hơn từ các nhà luật học.

Công ước chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Công ước chống Tra tấn

Công ước chống Tra tấn và Trừng phạt hoặc Đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác

Ngày thảo 10.12.1984[1]

Ngày ký

Địa điểm 10.12.1984

Có hiệu lực

Điều kiện 26.6.1987[1]

20 phê chuẩn[2]

Bên ký kết 77[1]

Bên tham dự 147[1]

Các ngôn ngữ Ả Rập, Trung quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha[4]

Công ước chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc tên đầy đủ là Công ước chống Tra tấn và Trừng phạt hoặc Đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác (tiếng Anh : United Nations Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment) là một trong Các văn kiện nhân quyền quốc tế và khu vực, dưới sự duyệt xét lại của Liên Hiệp Quốc, nhằm mục đích phòng chống tra tấn trên toàn thế giới.

Công ước này đòi các nước phải có biện pháp hữu hiệu để phòng chống tra tấn trong nước mình, và nghiêm cấm các nước trả lại người về đất nước của họ nếu có lý do để tin rằng (ở đó) họ sẽ bị tra tấn

Bản văn Công ước đã được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc chấp thuận ngày 10.12.1984[1] và, tiếp sau sự phê chuẩn của nước ký kết thứ 20,[2] thì Công ước đã bắt đầu có hiệu lực từ ngày 26.6.1987.[1] Ngày 26 tháng 6 nay được công nhận là Ngày quốc tế ủng hộ các nạn nhân bị tra tấn (International Day in Support of Torture Victims) để vinh danh Công ước này.

Tới tháng 9 năm 2010, Công ước đã có 147 bên ký kết.[1]

Bản đồ thế giới với các nước đối với Công ước chống Tra tấn

  ký và phê chuẩn

  ký nhưng chưa phê chuẩn

  không ký và không phê chuẩn

Mục lục [ẩn]

Tóm tắt[sửa]

Công ước này theo cấu trúc của các Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyềnCông ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, với một lời mở đầu và 33 điều khoản, được chia thành 3 phần :

Phần I (các điều 1–16) định nghĩa Tra tấn (điều 1), và các bên ký kết phải có các biện pháp hữu hiệu để phòng chống bất cứ hành động tra tấn trong bất cứ lãnh thổ nào dưới thẩm quyền pháp lý của mình (điều 2). Các điều khoản trên bao gồm việc bảo đảm rằng tra tấn được coi là một tội hình sự (Điều 4), việc thiết lập quyền thi hành pháp luật đối với các hành vi tra tấn một công dân của bên ký kết hoặc do một công dân của bên ký kết vi phạm (tội tra tấn) (Điều 5), việc bảo đảm rằng tra tấn là một tội có thể bị dẫn độ (Điều 8), và việc thiết lập [quyền thi hành pháp luật phổ quát] để xét xử các vụ tra tấn tại nơi một kẻ phạm tội tra tấn không thể bị dẫn độ (Điều 5). Các bên ký kết phải kịp thời điều tra mọi cáo buộc tra tấn (các Điều 12 và 13), và các nạn nhân bị tra tấn phải có quyền được bồi thường (Điều 14). Các bên cũng phải cấm sử dụngchứng cớ do tra tấn (mà có) ở các tòa án của mình (Điều 15), và ngăn chặn việc trục xuất, dẫn độ hoặc trả lại người về nơi mà có cơ sở để tin rằng họ sẽ bị tra tấn (Điều 3). Các bên ký kết cũng có nghĩa vụ phòng chống việc trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác, và điều tra bất kỳ cáo buộc nào về việc đối xử như vậy trong thẩm quyền pháp lý của mình (Điều 16)

Phần II (Điều 17 – 24) nói về việc báo cáo và giám sát Công ước và các bước do các bên tiến hành để thực hiện công ước. Phần này thiết lập Ủy ban chống Tra tấn (Điều 17), và trao quyền cho ủy ban để điều tra các cáo buộc tra tấn có hệ thống (Điều 20). Nó cũng thiết lập một cơ chế giải quyết tranh chấp tùy chọn giữa các bên (Điều 21) và cho phép các bên công nhận thẩm quyền của Ủy ban được nghe các khiếu nại, khiếu tố của các cá nhân về việc vi phạm Công ước của một bên ký kết (Điều 22).

Phần III (Điều 25 – 33) nói về việc phê chuẩn, đi vào hiệu lực, và tu chính Công ước. Nó cũng bao gồm một cơ chế trọng tài tùy chọn (không bắt buộc) đối với tranh chấp giữa các bên (Điều 30)

Các quy định chính[sửa]

Định nghĩa tra tấn[sửa]

Điều 1 của Công ước định nghĩa tra tấn như sau :

(Tra tấn) là bất kỳ hành động nào tạo ra sự đau đớn nặng nề hoặc đau khổ – dù thể xác hay tâm thần – do cố ý gây ra cho một người nhằm các mục đích là đạt được thông tin hay một lời thú nhận từ anh ta hoặc một người thứ ba, trừng phạt anh ta vì một hành động mà anh ta hoặc người thứ ba đã phạm hoặc bị nghi là đã phạm, hoặc đe dọa, ép buộc anh ta hoặc một người thứ ba, hoặc đối với bất kỳ lý do nào dựa trên sự phân biệt đối xử bất kỳ loại nào, khi nỗi đau đớn hay đau khổ như vậy gây ra bởi – hoặc theo sự xúi giục – hoặc với sự đồng ý – hoặc chấp thuận – của một quan chức hoặc người khác hành động trên cương vị chính quyền. Nó không bao gồm sự đau đớn hoặc đau khổ ngẫu nhiên hoặc vốn có khi bị các hình phạt đúng theo luật.

– Công ước chống Tra tấn, Điều 1,1

Các hành động chưa tới mức tra tấn vẫn có thể cấu thành tội đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc làm mất phẩm giá theo Điều 16.

Cấm tra tấn và Đối xử tàn nhẫn làm mất phẩm giá[sửa]

Điều 2 của Công ước cấm việc tra tấn, và yêu cầu các bên ký kết phải có các biện pháp hữu hiệu để phòng chống tra tấn ở bất cứ lãnh thổ nào dưới thẩm quyền pháp lý của mình. Việc cấm này là tuyệt đối và không được vi phạm.

“Không có bất cứ trường hợp đặc biệt (ngoại lệ) nào”[5] có thể được viện dẫn để biện minh cho tra tấn, bao gồm cả chiến tranh, mối đe dọa của chiến tranh, bất ổn chính trị nội bộ, tình trạng khẩn cấp chung, hành vi khủng bố, tội phạm bạo lực, hoặc bất cứ hình thức xung đột vũ trang nào.[6] Tra tấn không thể được biện minh như một phương tiện để bảo vệ an toàn công cộng hoặc ngăn chặn các trường hợp khẩn cấp [6]. Cũng không có thể được biện minh bằng các lệnh từ các sĩ quan cấp trên hoặc các quan chức.[7] Việc cấm tra tấn áp dụng cho tất cả các vùng lãnh thổ thuộc thẩm quyền pháp lý thực sự của một bên ký kết, và bảo vệ tất cả mọi người dưới sự kiểm soát thực sự của mình, bất kể quốc tịch hoặc việc kiểm soát được thực hiện như thế nào.[6]. Kể từ khi Công ước có hiệu lực, việc cấm tuyệt đối này đã được chấp nhận như một nguyên tắc của luật quốc tế theo tập quán.[6]

Vì thường khó phân biệt giữa tra tấn và đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá, nên Ủy ban chống tra tấn coi sự cấm việc đối xử như vậy của Điều 16 là tuyệt đối và không được vi phạm.[6]

Các điều khoản khác của Phần I đưa ra các nghĩa vụ cụ thể nhằm thực thi lệnh cấm tuyệt đối này bằng cách phòng chống, điều tra và trừng phạt những hành vi tra tấn.[6]

Cấm trục xuất, dẫn độ[sửa]

Điều 3cấm các bên ký kết không được trục xuất, dẫn độ hoặc trả lại bất cứ người nào về một nước “nơi mà có cơ sở chắc chắn để tin rằng họ sẽ bị nguy hiểm vì là đối tượng bị tra tấn”.[8] Uỷ ban chống tra tấn cho rằng mối nguy hiểm này phải được tính đến không chỉ cho nước tiếp nhận ban đầu, mà còn cho các nước mà người này sau đó có thể bị trục xuất, trả về hoặc bị dẫn độ.[9]

Các nước ký Công ước chống Tra tấn[sửa]

Bên tham giaKý kếtPhê chuẩn, Accession (a), Succession (d)

Afghanistan 4.2.1985 1.4.1987

Albania . 11.5.1994 a

Algeria 26.11.1985 12.9.1989

Andorra 5.8.2002 22.9.06

Antigua và Barbuda . 19.7.1993 a

Argentina 4 Feb 1985 24.9.1986

Armenia . 13.9.1993 a

Úc 10.12.1985 8.8.1989

Áo 14.3.1985 29.7.1987

Azerbaijan . 16.8.1996 a

Bahamas 16.12.08

Bahrain . 6.3.1998 a

Bangladesh . 5.10.1998 a

Belarus 19.12.1985 13.3.1987

Bỉ 4.2.1985 25.6.1999

Belize . 17.3.1986 a

Benin . 12.3.1992 a

Bolivia 4.2.1985 12.4.1999

Bosna và Hercegovina . 1.9.1993 d

Botswana 8.9.2000 8.9.2000

Brasil 23.9.1985 28.9.1989

Bulgaria 10.6.1986 16.12.1986

Burkina Faso . 4.01.1999 a

Burundi . 18.2.1993 a

Cambodia . 15.10.1992 a

Cameroon . 19.12.1986 a

Canada 23.8.1985 24.6.1987

Cape Verde . 4.6.1992 a

Chad . 9.6.1995 a

Chile 23.9.1987 30.9.1988

Trung quốc 12.12.1986 4.10.1988

Colombia 10.4.1985 8.12.1987

Comoros 22.9.2000 .

Congo . 30.7.2003 a

Costa Rica 4.2.1985 11.11.1993

Bờ Biển Ngà . 18.12.1995 a

Croatia . 12.10.1992 d

Cuba 27.01.1986 17.5.1995

Cyprus 9.10.1985 18.7.1991

Cộng hòa Séc . 22.2.1993 d

Cộng hòa Dân chủ Congo . 18.3.1996 a

Đan Mạch 4.2.1985 27.5.1987

Djibouti . 5.11.2002 a

Cộng hòa Dominica 4.2.1985 .

Ecuador 4.2.1985 30.3.1988

Ai Cập . 25.6.1986 a

El Salvador . 17.6.1996 a

Equatorial Guinea . 8.10.2002 a

Estonia . 21 Oct 1991 a

Ethiopia . 14.3.1994 a

Phần Lan 4.2.1985 30.8.1989

Pháp 4.2.1985 18.2.1986

Gabon 21.01.1986 8.9.2000

Gambia 23.10.1985 .

Gruzia . 26.10.1994 a

Đức 13.10.1986 1.10.1990

Ghana 7.9.2000 7.9.2000

Hy Lạp 4.2.1985 6.10.1988

Guatemala . 5.01.1990 a

Guinea 30.5.1986 10.10.1989

Guinea-Bissau 12.9.2000 .

Guyana 25.01.1988 19.5.1988

Tòa Thánh . 26.6.2002 a

Honduras . 5.12.1996 a

Hungary 28.11.1986 15.4.1987

Iceland 4.2.1985 23.10.1996

Ấn Độ 14.10.1997 .

Indonesia 23.10.1985 28.10.1998

Ireland 28.9.1992 11.4.2002

Israel 22.10.1986 3.10.1991

Ý 4.2.1985 12.01.1989

Nhật Bản . 29.6.1999 a

Jordan . 13.11.1991 a

Kazakhstan . 26.8.1998 a

Kenya . 21.2.1997 a

Kuwait . 8.3.1996 a

Kyrgyzstan . 5.9.1997 a

Latvia . 14.4.1992 a

Liban . 5.10.2000 a

Lesotho . 12.11.2001 a

Liberia . 22.9.2004 a

Libyan Arab Jamahiriya . 16.5.1989 a

Liechtenstein 27.6.1985 2.11.1990

Litva . 1.2.1996 a

Luxembourg 22.2.1985 29.9.1987

Madagascar 1.10.2001 13.12.2005

Malawi . 11.6.1996 a

Maldives . 20.4.2004 a

Mali . 26.2.1999 a

Malta . 13.9.1990 a

Mauritania . 17.11.2004 a

Mauritius . 9.12.1992 a

Mexico 18.3.1985 23.01.1986

Monaco . 6.12.1991 a

Mông Cổ . 24.01.2002 a

Montenegro . 23.10.2006 d

Morocco 8.01.1986 21.6.1993

Mozambique . 14.9.1999 a

Namibia . 28.11.1994 a

Nauru 12.11.2001 .

Nepal . 14.5.1991 a

Hà Lan 4.2.1985 21.12.1988

New Zealand 14.01.1986 10.12.1989

Nicaragua 15.4.1985 5.7.2005

Niger . 5.10.1998 a

Nigeria 28.7.1988 28.6 2001

Na Uy 4.2.1985 9.7.1986

Pakistan 17.4.08 3.6.2010

Panama 22.2.1985 24.8.1987

Paraguay 23.10.1989 12.3.1990

Peru 29.5.1985 7.7.1988

Philippines . 18.6.1986 a

Ba Lan 13.01.1986 26.7.1989

Bồ Đào Nha 4.2.1985 9.2.1989

Qatar . 11.01.2000 a

Hàn quốc . 9.01.1995 a

Cộng hòa Moldova . 28.11.1995 a

Romania . 18.12.1990 a

Liên bang Nga 10.12.1985 3.3.1987

Rwanda 15.12.2008 a

Saint Vincent và Grenadines . 1.8.2001 a

San Marino 18.9.2002 27.11.2006

São Tomé and Príncipe 6.9.2000 .

Ả Rập Saudi . 23.9.1997 a

Senegal 4.2.1985 21.8.1986

Serbia . 12.3.2001 d

Seychelles . 5.5.1992 a

Sierra Leone 18.3.1985 25.4.2001

Slovakia . 28.5.1993 d

Slovenia . 16.7.1993 a

Somalia . 24.01.1990 a

Nam Phi 29.01.1993 10.12.1998

Tây Ban Nha 4.2.1985 21.10.1987

Sri Lanka . 3.01.1994 a

Sudan 4.6.1986 .

Swaziland . 26.3.2004 a

Thụy Điển 4.2.1985 8.01.1986

Thụy Sĩ 4.2.1985 2.12.1986

Syria . 19.8.2004 a

Tajikistan . 11.01.1995 a

Thái Lan . 2.10.2007 a

Macedonia . 12.12.1994 d

Timor-Leste . 16.4.2003 a

Togo 25.3.1987 18.11.1987

Tunisia 26.8.1987 23.9.1988

Thổ Nhĩ Kỳ 25.01.1988 2.8.1988

Turkmenistan . 25.6.1999 a

Uganda . 3.11.1986 a

Ukraine 27.2.1986 24.2.1987

Vương quốc Anh 15.3.1985 8.12.1988

Hoa Kỳ 18.4.1988 21.10.1994

Uruguay 4.2.1985 24.10.1986

Uzbekistan . 28.9.1995 a

Venezuela 15.2.1985 29.7.1991

Yemen . 5.11.1991 a

Zambia . 7.10.1998 a

Nghị định thư tùy chọn[sửa]

Nghị định thư tùy chọn về “Công ước chống Tra tấn và Trừng phạt hoặc Đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác” (OPCAT), được thông qua tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc vào ngày 18 tháng 12 năm 2002 và có hiệu lực từ 22 tháng 6 năm 2006, quy định về việc thành lập “một hệ thống các chuyến viếng thăm thường xuyên do các cơ quan độc lập quốc tế và quốc gia thực hiện tại các nơi có người đang bị tước quyền tự do, để ngăn chặn việc tra tấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác”,[10] được giám sát bởi một Tiểu ban Phòng chống Tra tấn và Trừng phạt hoặc Đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác.

Các bên ký kết Nghị định thư tùy chọn[sửa]

Tới tháng 9 năm 2010 Nghị định thư tùy chọn đã có 66 bên ký kết và 55 bên tham gia.[11]

Ủy ban chống Tra tấn[sửa]

Uỷ ban chống Tra tấn (CAT) là một cơ quan gồm các chuyên gia về nhân quyền, theo dõi việc thi hành Công ước của các bên nhà nước ký kết. Ủy ban này là một trong 8 cơ quan liên kết về hiệp ước nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Tất cả các bên nhà nước ký kết có nghĩa vụ phải nộp báo cáo thường xuyên cho Ủy ban chống Tra tấn về cách thức bảo vệ nhân quyền được thi hành như thế nào. Khi phê chuẩn Công ước, các nước phải nộp một báo cáo trong vòng một năm, sau đó họ có nghĩa vụ báo cáo mỗi 4 năm. Ủy ban kiểm tra từng báo cáo và đưa ra các quan tâm và khuyến nghị của mình cho bên nhà nước ký kết dưới hình thức các “quan sát kết luận”. Trong một số trường hợp, Ủy ban có thể xem xét các khiếu nại, khiếu tố hoặc các thông tin từ các cá nhân cho rằng các quyền của họ theo Công ước đã bị vi phạm.

Ủy ban chống Tra tấn thường họp vào tháng 4/ tháng 5 và tháng 11 hàng năm tại Genève.

Các thành viên của Ủy ban chống Tra tấn hiện nay:[12]

TênNướcThời hạn

Claudio Grossman (chủ tịch)  Chile 2007–2011

Nora Sveaass (phó chủ tịch)  Na Uy 2009–2013

Xuexian Wang (phó chủ tịch)  Trung Quốc 2009–2013

Essadia Belmir (phó chủ tịch)  Morocco 2009–2013

Myrna Y. Kleopas  Cyprus 2007–2011

Alessio Bruni  Ý 2009–2013

Felice D. Gaer  Hoa Kỳ 2007–2011

Abdoulaye Gaye  Senegal 2007–2011

Tham khảo[sửa]

a b c d e f g United Nations Treaty Collection: Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment. Retrieved on 16 January 2010.

a b Convention Against Torture, Article 27. Retrieved on 30 December 2008.

^ Convention Against Torture, Article 25. Retrieved on 30 December 2008.

^ Convention Against Torture, Article 33. Retrieved on 30 December 2008.

^ Convention Against Torture, Article 2.2. Retrieved on 30 December 2008.

a b c d e f “CAT General Comment No. 2: Implementation of Article 2 by States Parties” (PDF). Committee against Torture. 23 tháng 11 năm 2007. tr. 2. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008.

^ Convention Against Torture, Article 2.3. Retrieved on 30 December 2008.

^ Convention Against Torture, Article 3.1. Retrieved on 30 December 2008.

 .

4 thoughts on “THẤY GÌ KHI Việt Nam tham gia ký vào CÔNG ƯỚC CHỐNG TRA TẤN CỦA LIÊN HỢP QUỐC?

  1. Đi đâu,nói về cái gì thì hay nhưng mà làm thì lại rất phi luân.Tóm lại vẫn như nhiều người nói:Đừng….

  2. he he … Phen nầy ta tha hồ đi biểu tình, hô to “đả đảo tra tấn, đánh đập, đàn áp công dân”; trắc nghiệm xem ‘lá bùa này’ có hiệu nghiệm không! (ký một đàng, đánh một nẻo, ai mách lẻo, bỏ tù ngay!)

  3. Pingback: NHẬT BÁO BA SÀM : TIN THỨ BẢY 9-11-2013 | Ngoclinhvugia's Blog

  4. Câu nói bất hữu chân lý của tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”. Nhân dân Việt nam một số biết câu nói đấy của ông Thiệu. Trong khi ấy thì vẫn một số khác không biết vì còn trẻ hay không có điều kiện so sánh đối chiếu việc NÓI và LÀM của đảng CSVN, hoặc có biết những tư duy bảo thủ sơ cứng, đây chính là đất sống cho sự lừa bịp mị da^n của những lãnh đạo cộng sản và những người còn tin tưởng vào nó vì quyền lợi “còn đảng thì còn mình còn sổ hữu còn nhà cào xe đẹp, còn có cơ hội tham nhũng làm giàu cho gia đình”.

Đã đóng bình luận.