Hà Nội: Một vụ án có dấu hiệu oan, sai và vi phạm tố tụng nghiêm trọng?

Lịch sử ngành tư pháp đã có nhiều vụ án được được các cơ quan tiến hành tố tụng “vẽ” nên từ những tình tiết hết sức vô lý, nhưng vẫn được đưa ra xét xử như “thật”. Có những vụ án chỉ là những quan hệ dân sự hết sức bình thường, nhưng lại được các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự hóa các quan hệ dân sự theo kiểu “vẽ rắn thêm chân”, quy kết tội cho công dân từ những lời khai tù mù, không có thực, không được kiểm chứng và làm việc qua loa, chiếu lệ. Khi xét xử, phiên tòa vắng mặt cả bị cáo lẫn bị hại vẫn được tiến hành… Kết quả là người dân thì lĩnh hậu quả thật, còn cơ quan tiến hành tố tụng thì cho rằng mình đã làm đúng quy trình, thủ tục và sau đó “vô can”.

(Ảnh: Minh họa)

Vụ án bà Nguyễn Vũ Hoàng Oanh sinh năm 1973, giảng viên Bộ môn Luật, Trường Đại học Lao động – Xã hội (thuộc Bộ Lao động – Thương binh và xã hội) bi truy tố về các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những vụ án như thế và các cơ quan tiến hành tố tụng vụ án này (quân Hai Bà Trưng và TP.Hà Nội) đang có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình Sự, Bộ luật Hình sự,…

Từ quan hệ tình cảm thành bị cáo

Khoảng tháng 3/2010, bà Vũ Thị Lan (bạn bà Hoàng Oanh) có đưa ông Trần Mạnh Thắng đến nhà bà Hoàng Oanh với mục đích là làm quen, giới thiệu bạn cho bà Hoàng Oanh (hoàn toàn không có chuyện đến đặt vấn đề vay tiền đối với bà Hoàng Oanh). Khi đến nhà bà Hoàng Oanh, ông Thắng và bà Lan đi chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Getz, biểm kiểm soát 30T- 4960 do ông Thắng mượn của ông Trần Văn Tần (xe đứng tên chủ sở hữu không phải là ông Tần mà do ông Tần thuê của Công ty Cổ phần Thiết kế xây dựng và Vận tải Đông Hà Nội để làm phương tiện đi lại). Sau khi đến nhà bà Hoàng Oanh, lúc trở về ông Thắng và bà Lan đã để lại chìa khóa chiếc ô tô và giấy tờ xe photo mà ông Thắng đi mượn cho chị Oanh sử dụng mặc dù chị Oanh không có yêu cầu (việc để lại xe đi mượn của ông Thắng có ý đồ tạo cớ để có quan hệ lâu dài về sau với bà Hoàng Oanh).

Khi phát hiện chiêc xe để ở ngoài đường – trước cửa nhà mình, sợ rằng chiếc xe bị trộm cắp nên bào Hoàng Oanh đã nhờ người mang xe đi gửi tại bãi trông giữ xe có tên là Song Cường trên đường Trần Duy Hưng. Sau nhiều ngày không thấy ông Thắng đến lấy xe, chị Oanh đã lần theo số điện thoại của Công ty Cổ phần Thiết kế xây dựng và Vận tải Đông Hà Nội để thông báo việc đang giữ chiếc xe ô tô cùa Công ty này (do ông Tân thuê). Một nhân viên của Công ty này là bà Thủy đã tiếp nhận thông tin từ bà Oanh nhưng cho rằng xe đã cho thuê thì người thuê chịu trách nhiệm quản lý và phải đem trả lại cho Công ty.

Đến tháng 6/2010, ông Thắng bị người cho mượn xe (ông Tần) tố cáo là chiếm đoạt chiếc ô tô đã cho mượn. Để cứu mình, ông Thắng cũng làm đơn tố cáo bà Hoàng Oanh với nội dung bà Hoàng Oanh lừa đảo chiếm đoạt chiếc ôtô này từ ông Thắng.

Khi ông Thắng tố cáo chị Oanh thì CQĐT, VKSND quận Hai Bà Trưng đã cho răng việc chị Oanh giữ chiếc ô tô mà ông Thắng “cầm cố” nhưng không đưa tiền cho ông Thắng vay là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sàn nên đã khởi tố chị Oanh về tội danh này. Trong khi đó, vì mượn xe của người khác rồi đem đi câm cố nên ông Thắng cũng bị truy tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sàn.

Viêc tiến hành của các cơ quan tố tụng

Theo cáo trạng của VKSND quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, ngày 17/03/2010, ông Trần Mạnh Thắng đến Công ty của ông Trần Văn Tần mượn xe ô tô Hyundai Getz BKS 30T- 4960 do ông Tần thuê của Công ty Cổ phần Thiết kế xây dựng và Vận tải Đông Hà Nội để làm phương tiện đi lại. Cùng thời gian này, ông Thẳng nhờ chị Vũ Thị Lan giới thiệu và cùng đi với chị Lan đến gặp chị Nguyễn Vũ Hoàng Oanh để hỏi vay tiền.

Tại nhà chị Oanh, ông Thắng đề nghị vay 200 triệu đồng và chị Oanh đồng ý với yêu cầu phải có tài sản thế chấp. Vì thế, ông Thắng đã sử dụng xe ô tô mượn của ông Tần cùng bàn photo giây tờ xe thuê, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn ích Ảnh, sổ hộ khẩu của gia đình ông Thắng làm “tài sản thế chấp ” để vay số tiền trên. Sau khi thỏa thuận xong về các điều kiện vay mượn, chị Oanh đi lấy tiền và hẹn ông Thắng đến Hàng Khoai để thực hiện việc giao, nhận tiền. Tuy nhiên, khi ông Thắng đến điểm hẹn thì không gặp chị Oanh, liên lạc bằng điện thoại nhiều lần nhưng không được. Vì thế, ông Thắng về mà không lấy được tiền vay. Tài sản thế chấp cũng để lại nhà chị Oanh từ ngày 17/3/2010 (cáo trạng này dựa toàn bộ trên lời khai của ông Thắng và một số đối tượng liên quan khác với cơ quan điều tra, những lời khai hoàn toàn không được đối chất làm rõ theo quy định).

Tuy nhiên, chỉ dựa trên những lời khai thiếu căn cứ mà cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng đưa ra nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng quận Hai Bà Trưng và Thành phố Hà Nội vẫn tiến hành tuy tố bà Nguyễn Vũ Hoàng Oanh về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì sao trong quá trình thực hiện việc điều tra cơ quan điều tra không tiến hành đối chất mà chỉ dựa trên lời khai từ một phía? Trong khi đó, bà Nguyễn Vũ Hoàng Oanh có đầy đủ bằng chứng về việc bị hại cũng là bị cáo (ông Thắng) mang xe đến để cho mượn thì lại bị cáo buộc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Một phần nội dung bản án của Toàn án Nhân dân TP.Hà Nội

Quá trình đưa vụ án ra xét xử của các phiên tòa sơ thầm và phúc thẩm cũng có quá nhiều vấn đề có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng trong quá trình thực thi pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Trong hai bản án sơ thẩm (337/2014/HSST ngày 15/09/2014) và bản án phúc thẩm (209/2015/HSPT ngày 16/04/2015) đều có nêu: Nhận thấy sự vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa hôm nay không trở ngại cho việc xét xử, ngoài ra bị cáo phạm tội đã đủ 18 tuổi, bị cáo không bị xét xử theo khung hình phạt cao nhất là tử hình, không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 điều 57 Bộ luật Hình sự, quyết định xử vắng mặt bi cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hà Nội tại phiên tòa.

Sự viện dẫn này thực tế là sai sự thật và trái pháp luật, vi phạm các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Xin nêu, phân tích một số điểm cơ bản để bạn đọc thấy các cơ quan tiến hành tố tụng của quận Hai Bà Trưng và TP.Hà Nội đã tiến hành vụ án này thế nào.

Bản án nêu: Nhận thấy sự vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa hôm nay không trở ngại cho việc xét xử…

Điều này cho thấy sự “làm càn” của các cơ quan tiến hành tố tụng, vì về mặt chứng cứ thì tất cả chỉ là lời khai mà theo nguyên tắc trong tố tụng thì phải trọng chứng hơn trọng cung vậy phiên tòa xét, xử cái gì và thầm tra chứng cứ kiểu gì? Nếu đã vậy thì cơ sở nào để tòa tìm ra sự thật của vụ án để ban hành bản án. Chưa hết, toàn bộ lời khai của cáo trạng chỉ từ một phía, không đối chất (từ khâu điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, cho đến xét xử phúc thẩm).

Vậy có phải sự vắng mặt của bị cáo không làm trở ngại cho việc xét xử là việc để các cơ quan tiến hành tố tụng của quận Hai Bà Trưng và TP.Hà Nội ngang nhiên thực hiện các thủ tục tố tụng trái với những quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự (Chương V: Chứng cứ; Chương XVIII: Quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa; Chương XIX: Thủ tục bắt đầu phiên tòa; Chương XXII: Nghị án và tuyên án; Chương XXIII: Tính chất của xét xử phúc thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị; Chương XXIV: Thủ tục xét xử phúc thẩm).

Việc gửi giấy triệu tập bị cáo tại ngoại của Tòa cũng liên tục diễn ra trong nhiều sự bất thường. Theo đó, tại Điểm c khoản 2 Điều 187 Bộ luật Hình sự quy định: “Nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã được trao giấy triệu tập hợp lệ”.

Tuy nhiên bà Oanh chưa bao giờ được trao giấy triệu tập hợp lệ và cả năm lần trao giấy triệu tập thì đều vi phạm các điều luật của Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về vấn đề này. Vì thế sự vắng mặt của bà Oanh là gây trở ngại cho việc xét xử hay nói cách khách tòa không thể xét xử được vì trước đó chính Tòa án đã vi phạm các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về việc triệu tập bị cáo cũng như thời gian xét xử phúc thẩm và thời gian hoãn phiên tòa.

Bên cạnh đó, Tòa cũng cho rằng bị cáo Hoàng Oanh không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật Hình sự… Tuy nhiên, khoản 2 Điều 57 Bộ luật Hình sự quy định về khung hình phạt có mức phạt cao nhất là tử hình và bị cáo chưa thành niên; bị cáo có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì bắt buộc phải có người bào chữa. Nếu bị cáo không nhờ người bào chữa thì tòa án và các cơ quan có thẩm quyền vẫn phải đảm bảo cho việc họ có luật sư bào chữa ví dụ như luật sư bào chữa miễn phí, luật sư bào chữa chỉ định.

Ở đây, bà Nguyễn Vũ Hoàng Oanh có ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư với nội dung bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo đúng các quy định của hiến pháp, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Hình sự và Bộ luật Dân sự.

Vậy căn cứ vào đâu mà các cơ quan tiến hành tố tụng lại cho rằng bà Hoàng Oanh thuộc trường hợp trên và tiến hành xét xử vắng mặt. Điều này thể hiện sự gian dối của các cơ quan tiến hành tố tụng đã cố tình làm trái các quy định của pháp luật.

Bộ luật Tố tụng Hình sự (Điều 182; khoản 2 Điều 245; khoản 1 Điều 184) quy dịnh rất rõ ràng và cụ thể về việc xét xử vắng mặt để đảm bảo các quyền lợi cho bị cáo và những người có liên quan, để gia đình, người thân, người bào chữa, … và những người khác có thể đến dự phiên tòa khi bị cáo bị xét xử vắng mặt – nhưng Hội đồng xét xử đã cố ý làm trái các quy định của pháp luật để ra bản án trái pháp luật.

Có thể nói, bản chất vụ án này nếu có những giao dịch như nêu trên và phát sinh tranh chấp thì cũng chỉ là một tranh chấp dân sự. Do đó, khi tiến hành truy tố bà Hoàng Oanh về tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì cần phải xem xét lại một cách nghiêm túc vì vụ việc này hoàn toàn chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong vụ án này, chị Oanh chưa đưa tiền cho vay mặc dù đã nhận tài sản đảm bảo thì ông Thắng hoàn toàn có thể đòi tiền vay. Như vậy, nếu sự thật như CQĐT kết luận thì bản chất đây là tranh chấp về nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng chứ không phải là tội phạm.

Phải chăng, đây là một màn kịch vụng về của một ai đó đã biến các cơ quan tố tụng quận hai bà trưng và thành phố hà nội thành những “con rối” tồi khi diễn vở kịch để vu khống cho bà Nguyễn Vũ Hoàng Oanh quá vụng về và thô tục?

PV

Advertisements